Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Môi trường
Quyết định số 560/QĐ-UBND ngày 27 tháng 3 năm 2019 Về việc công bố danh mục 16 thủ tục hành chính thay thế và danh mục 02 thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực môi trường thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài nguyên và Môi trường 
 
Công văn 2831/STNMT-CCBVMT về việc điều chỉnh tên cửa khẩu khẩu nhập khẩu phế liệu 
 
Góp ý Quy chế phân công, phân cấp trách nhiệm và phối hợp trong quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Bến Tre 
 
Công văn 2790,2791,2793,2794/STNMT-CCBVMT Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan và điều chỉnh tên cửa khẩu nhập khẩu phế liệu (Cty Đông Hải) 
 
Công văn 2761,2762,2763,2764,2765,2766,2767/STNMT-CCBVMT về việc điều chỉnh tên cửa khẩu nhập khẩu phế liệu, số lượng phế liệu nhập khẩu và thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểmt ra, thông quan của công ty cổ phần Đông Hải 
 
Công văn 2763/STNMT-CCBVMT Về việc điều chỉnh tên cửa khẩu nhập phế liệu của công ty cổ phần Đông Hải 
 
 
Công văn 2686/STNMT-CCBVMT, 2687/STNMT-CCBVMT, 2688/STNMT-CCBVMT về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan công ty cổ phần Đông Hải  
 
Công văn 2524/STNMT-CCBVMT Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan công ty cổ phần Đông Hải cảng nhập Bình Dương và SP-ITC 
 
Công văn 2525/STNMT-CCBVMT Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan công ty cổ phần Đông Hải cảng nhập Bình Dương, SP-ITC và Cái Mép 
 
Công văn 2450/STNMT-CCBVMT Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan cảng nhập Bình Dương 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp  tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh Bến TreQuy chế phối hợp quản lý tổng hợp  tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Ngày 04/10/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ký Quyết định số 52/2017/QĐ-UBND ban hành Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển tỉnh Bến Tre

          Ngày 04/10/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ký Quyết định số 52/2017/QĐ-UBND ban hành Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển tỉnh Bến Tre. Việc ban hành quy chế nhằm mục đích đưa hoạt động quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh đảm bảo chặt chẽ, hiệu quả theo đúng quy định pháp luật; thiết lập cơ chế phối hợp đồng bộ, phân định và nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa các sở, ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức có liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện ven biển trong hoạt động quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; và nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường biển theo hướng bền vững.

mot_goc_bo_ThanhPhu.png

Một góc bờ biển Thạnh Phú, Bến Tre

Quy chế phối hợp được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm sự quản lý thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, phân công rõ nhiệm vụ của từng sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện ven biển và các tổ chức có liên quan trong việc chủ trì, phối hợp thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; việc thực hiện các nhiệm vụ phối hợp phải trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, bảo đảm bí mật quốc gia và bảo mật thông tin theo quy định của pháp luật; tuân thủ các quy định của Quy chế này và các quy định của pháp luật có liên quan; không cản trở các hoạt động khai thác, sử dụng hợp pháp tài nguyên biển, hải đảo và các hoạt động hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân trên vùng biển của tỉnh.

Quy chế gồm có 03 Chương và 11 Điều, các nội dung phối hợp được nêu trong quy chế gồm:

- Phối hợp xây dựng, thực hiện văn bản pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.

- Phối hợp lập và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch sử dụng khai thác bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển; quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển; quy hoạch khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ.

- Phối hợp quản lý, thực hiện hoạt động điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về tài nguyên môi trường biển.

- Phối hợp thiết lập hệ thống quan trắc, giám sát tổng hợp về tài nguyên, môi trường biển; xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển.

- Phối hợp kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; ứng phó, khắc phục sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển.

- Phối hợp tuyên truyền về biển và hải đảo; phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

- Phối hợp hợp tác quốc tế về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo.

- Thanh tra, kiểm tra giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.

Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển tỉnh Bến Tre có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/10/2017./.

Vĩnh Thịnh


28/11/2017 10:00 SAĐã ban hành
Công văn 2763/STNMT-CCBVMT Về việc điều chỉnh tên cửa khẩu nhập phế liệu của công ty cổ phần Đông HảiCông văn 2763/STNMT-CCBVMT Về việc điều chỉnh tên cửa khẩu nhập phế liệu của công ty cổ phần Đông Hải
Công văn 2763/STNMT-CCBVMT Về việc điều chỉnh tên cửa khẩu nhập phế liệu của công ty cổ phần Đông Hải
10/10/2018 3:00 CHĐã ban hành
Chủ đề Ngày Nước thế giới 2015: “Nước là cốt lõi của Phát triển bền vững”Chủ đề Ngày Nước thế giới 2015: “Nước là cốt lõi của Phát triển bền vững”
Tại Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển (UNICED) năm 1992 diễn ra tại Rio de Janeiro (Brazil), Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã lấy ngày 22 tháng 3 hằng năm là Ngày Nước thế giới để tôn vinh tài nguyên nước qua đó kêu gọi sự quan tâm của toàn thế giới về tầm quan trọng của tài nguyên nước và vận động chính sách về quản lý bền vững tài nguyên nước, đặc biệt là các nguồn nước ngọt.

Mỗi năm, một khía cạnh cụ thể của nước sẽ được nhấn mạnh: từ “Nước và an ninh lương thực” năm 2012 qua “Hợp tác vì Nước” năm 2013 và “Nước và Năng lượng” năm 2014. Với chủ đề “Nước là cốt lõi của Phát triển bền vững” Ngày Nước thế giới năm 2015 tập trung nhấn mạnh mối tương quan giữa Nước và Phát triển bền vững, hướng đến kêu gọi sự quan tâm của cộng đồng về mối liên hệ giữa phát triển bền vững và tài nguyên nước.




     Nguồn tài nguyên nước trên các lưu vực sông đang bị khai thác quá mức, trước những áp lực về phát triển kinh tế - xã hội, tài nguyên nước ngày càng suy thoái cả về chất và lượng. Theo dự đoán đến năm 2025, có khoảng 2/3 dân số trên toàn cầu sống ở các khu vực có điều kiện khó khăn về nguồn cung cấp nước. Chính vì thế, phát triển bền vững ngày càng trở nên cấp bách, gay gắt hơn bao giờ hết đòi hỏi phải mang tính chiến lược và mang tầm toàn cầu. Trong đó, tài nguyên nước đóng một vai trò then chốt và không thể tách rời khỏi phát triển bền vững.

     Đối với nước ta, mặc dù có 108 lưu vực sông, với 3.450 sông, suối tương đối lớn với tổng lượng nước trung bình hằng năm khoảng 830 tỷ m3, nhưng chủ yếu từ nước ngoài chảy vào và tập trung ở một số lưu vực sông lớn, lượng nước nội sinh chỉ chiếm khoảng 37% tổng lượng nước. Nước dưới đất dù có tiềm năng nhưng chỉ tập trung ở một số khu vực. Tài nguyên nước Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức từ nhu cầu sử dụng nước của người dân ngày càng tăng trong khi nguồn nước có hạn, hiệu quả sử dụng nước còn thấp; khai thác nước chưa được kiểm soát chặt chẽ, tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước đang ngày càng gia tăng; lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, ngập úng, nước biển dâng và tác động của biến đổi khí hậu; vấn đề chia sẻ lợi ích giữa các đối tượng sử dụng nước ở thượng nguồn và hạ nguồn, gần 2/3 lượng nước của nước ta hình thành ngoài lãnh thổ, nhưng cơ chế, chính sách hợp tác, chia sẻ nguồn nước giữa các quốc gia chưa hiệu quả.

     Là tỉnh nằm ở hạ lưu sông MêKông, giáp với biển Đông, Bến Tre có mạng lưới sông ngòi chằng chịt với tổng chiều dài xấp xỉ 6000km và là tỉnh có mật độ sông ngòi cao nhất nước (2,7km/km2). Vì vậy chất lượng của nguồn nước là vô cùng quan trọng đối với người dân và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh. Nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh bị ảnh hưởng bởi các hoạt động sinh hoạt và sản xuất, tình trạng xâm nhập mặn vào mùa khô và biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp.

     Theo kết quả quan trắc chất lượng nước mặt được lấy tại 54 điểm trên địa bàn tỉnh lần 1 năm 2014 của Trung tâm Quan trắc môi trường cho thấy hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt trên địa bàn tỉnh nhìn chung khá xấu: 38,6% mẫu nước ô nhiễm nặng và 45,4% mẫu nước có chất lượng thấp. Chỉ có 16% mẫu có thể sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt. Cụ thể như sau: Chất lượng nước mặt chảy qua các thị trấn và thành phố Bến Tre có 11/18 điểm cho kết quả chất lượng nước ô nhiễm; có 1 điểm sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp. Chất lượng nước kênh, rạch nội đồng có 4/8 điểm cho kết quả nước ô nhiễm nặng. Chất lượng nước thượng nguồn và các nhánh sông, kênh, rạch chính của tỉnh có 6/18 điểm có chất lượng nước có thể sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt. Chất lượng nước ở hầu hết những nơi còn lại là phục vụ tưới tiêu, giao thông thủy.

     Vì thế sử dụng tài nguyên nước một cách hiệu quả và hợp lý là yêu cầu cấp thiết đối với sự phát triển bền vững của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung. Bảo vệ nguồn nước chính là bảo vệ tương lai của chúng ta.





Nguyễn Minh Trí


23/03/2015 4:00 CHĐã ban hành
Hội nghị triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu khu vực miền Nam; Cơ hội, thách thức và hành động ứng phó của Bến TreHội nghị triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu khu vực miền Nam; Cơ hội, thách thức và hành động ứng phó của Bến Tre
Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội nghị tập huấn triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu

           Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội nghị tập huấn triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Hội nghị do Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì cùng Đại diện Cục Biến đổi khí hậu, Viện Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu và Đại biểu tham dự đến từ các Sở Tài nguyên và Môi trường, Công thương, Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của 19 tỉnh, thành phố khu vực miền Nam.

            Đại biểu tỉnh Bến Tre tham dự Hội nghị là các thành viên Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Công thương và Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

21.8-Paris_-_HCM_workshop_2017.png 

Hình: Ông Võ Văn Ngoan - Sở Tài nguyên và Môi trường chia sẻ kinh nghiệm ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre (Ảnh: Duy Anh)

        Hội nghị đã phổ biến các thông tin liên quan đến kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris của Việt Nam theo Quyết định 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ; hướng dẫn xây dựng kế hoạch cấp tỉnh thực hiện Thỏa thuận Paris. Đồng thời, Hội nghị cung cấp các thông tin về kịch bản biến đổi khí hậu và tác động đến ĐBSCL; công tác quản lý Nhà nước về biến đổi khí hậu; gắn kết tăng trưởng xanh, giảm nhẹ rủi ro thiên tai với ứng phó biến đổi khí hậu để phát triển bền vững; và trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm ứng phó biến đổi khí hậu giữa các tỉnh, thành phố trong khu vực.

        Theo Cục Biến đổi khí hậu - Bộ Tài nguyên và Môi trường: trong khuôn khổ Thỏa thuận Paris, Việt Nam sẽ thực hiện "Đóng góp do quốc gia tự quyết" (NDC) đến năm 2030 với hai hợp phần chính: về giảm nhẹ cam kết giảm 8% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát thải thông thường và có thể tăng lên 25% khi nhận được sự hỗ trợ của quốc tế; về thích ứng sẽ tiếp tục thực hiện các chương trình, dự án thuộc Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu nhằm tăng khả năng chống chịu, bảo vệ cuộc sống và sinh kế nhân dân; Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris của Việt Nam thực hiện 05 mục tiêu cụ thể trong NDC: (1) Thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính; (2) Thực hiện cam kết thích ứng biến đổi khí hậu; (3) Chuẩn bị nguồn lực con người, công nghệ và tài chính; (4) Thiết lập hệ thống công khai, minh bạch nhằm giám sát, đánh giá các nội dung thực hiện của mục tiêu (1), (2) và (3); mục tiêu (5) là hoàn thiện thể chế, chính sách tạo môi trường thuận lợi và tập trung nỗ lực quốc gia cho ứng phó biến đổi khí hậu; Khung thời gian của Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris đến năm 2030, trong đó: giai đoạn 2016 - 2020 tiếp tục thực hiện các hoạt động ứng phó biến đổi khí hậu đã được phê duyệt, chuẩn bị về mặt thể chế chính sách, nguồn lực nhằm đến năm 2020 sẵn sàng thực hiện các nghĩa vụ do Thỏa thuận Paris quy định; giai đoạn 2021 - 2030 thực hiện các nội dung trong NDC và các nhiệm vụ mới theo quy định của thỏa thuận Paris.

            Bến Tre là một trong những tỉnh được nhận định chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, tỉnh đã xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 - 2020 và cụ thể các nhiệm vụ thực hiện thỏa thuận Paris cho giai đoạn 2017 - 2020 trên cơ sở Quyết định số 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu (Báo cáo số 01/BC-BCĐBĐKH ngày 25/7/2017), sau thời gian thực hiện các nhiệm vụ ứng phó biến đổi khí hậu đến tháng 6/2017 tỉnh đã đạt những kết quả tích cực, nhưng vẫn tồn tại một số khó khăn, hạn chế và những thách thức, cơ hội trong thời gian tới, cụ thể như sau:

           Hạn chế, khó khăn: công tác ứng phó còn bị động, lúng túng; sự quan tâm chưa đúng mức của một số cán bộ, công chức, một bộ phận người dân chưa tích cực tham gia bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; về nguồn nhân lực, tỉnh đã thành lập Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo đều là cán bộ kiêm nhiệm.

          Cơ hội hỗ trợ, hợp tác quốc tế; ứng dụng công nghệ tiên tiến trong ứng phó biến đổi khí hậu: tỉnh đã và đang tranh thủ được tài trợ Quốc tế, hỗ trợ của Trung ương triển khai các công trình trọng điểm ứng phó biến đổi khí như Dự án Quản lý nước tỉnh Bến Tre (ứng dụng công nghệ Nhật trong quản lý nước và ứng phó hạn mặn); Xây dựng hệ thống quan trắc chất lượng nước và cảnh báo mặn tự động (Deltares Hà Lan tư vấn thực hiện); Cấp nước sinh hoạt Cù lao Minh trong điều kiện biến đổi khí hậu; Dự án Đê biển Thạnh Phú; Củng cố, nâng cấp đê biển huyện Bình Đại; Cân đối ngân sách tỉnh thực hiện dự án Hồ chứa nước ngọt Kênh lấp huyện Ba Tri; Và cơ hội phát triển điện năng lượng mặt trời, điện gió góp phần giảm phát thải khí nhà kính.

         Thách thức: các tác động của biến đổi khí hậu ngày càng bất thường và có xu hướng gia tăng về cường độ; nguy cơ xâm nhập mặn, khô hạn kéo dài, sạt lở ven biển, triều cường,…vẫn tiếp diễn, mặt khác các công trình trọng điểm ứng phó chưa hoàn thành, khép kín; thêm vào đó, khả năng thông tin, cảnh báo, dự báo mặn còn hạn chế và sự không ổn định của nước thượng nguồn sông Mekong gia tăng áp lực lên công tác ứng phó biến đổi khí hậu.

Huỳnh Lê Duy Anh - Phòng QLTN&KTTV


22/08/2017 8:00 SAĐã ban hành
Góp ý Dự thảo quyết định về việc Quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến TreGóp ý Dự thảo quyết định về việc Quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Góp ý Dự thảo quyết định về việc Quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre

          Để thống nhất ý kiến trước khi trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, ký ban hành Quyết định, Sở Tài nguyên và Môi trường gửi các Sở, Ngành, Tòa án nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố góp ý Dự thảo Quyết định.

         Ý kiến góp ý của các đơn vị gửi bằng văn bản về Sở Tài nguyên và Môi trường (File số gửi về địa chỉ tthien.stnmt@bentre.gov.vn)  trước ngày 24 tháng 5 năm 2018 để Sở tổng hợp, hoàn chỉnh và trình Ủy ban nhân dân tỉnh.

Tải nội dung: Du_thao_QD_2018.doc
24/04/2018 9:00 SAĐã ban hành
Bản đồ theo Kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến TreBản đồ theo Kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre
Bản đồ theo Kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre
29/03/2017 1:35 CHĐã ban hành
Hội nghị Sơ kết công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh 06 tháng đầu năm 2018Hội nghị Sơ kết công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh 06 tháng đầu năm 2018
Chiều ngày 24/5/2018, tại Hội trường UBND tỉnh đã diễn ra Hội nghị Sơ kết công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản tỉnh Bến Tre 06 tháng đầu năm 2018

Chiều ngày 24/5/2018, tại Hội trường UBND tỉnh đã diễn ra Hội nghị Sơ kết công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản tỉnh Bến Tre 06 tháng đầu năm 2018. Đến tham dự hội nghị có đồng chí Nguyễn Hữu Lập - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo quản lý hoạt động khai thác khoáng sản; ông Nguyễn Văn Chinh - Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, đại diện lãnh đạo các đơn vị: Văn phòng UBND tỉnh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Công an tỉnh, BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh, các sở, ban, ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân, phòng Tài nguyên và môi trường, Công an các huyện, thành phố và Ủy ban nhân dân một số xã có tình hình khai thác cát đang diễn biến phức tạp.

hoi_nghi_1.jpg

Quang cảnh hội nghị (Ảnh: Ngọc Khoa)

Nội dung hội nghị nhằm đánh giá tình hình, kết quả công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản cát sông trên địa bàn tỉnh 06 tháng đầu năm 2018, triển khai phương hướng, nhiệm vụ 06 tháng cuối năm 2018 và những năm tiếp theo. Trong đó, tập trung giải quyết, tháo gỡ những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc; rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất những biện pháp hiệu quả để phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, các ngành chức năng, lực lượng công an các cấp nhằm lập lại trật tự trong công tác quản lý hoạt động khoáng sản cát sông trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.

Trong 06 tháng đầu năm 2018, lực lượng Công an tỉnh, BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh, các sở, ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố đã ban hành nhiều kế hoạch, công văn chỉ đạo nhằm hướng dẫn, triển khai thực hiện, tăng cường công tác quản hoạt động khai thác khoáng sản thuộc phạm vi quản lý. Trong đó, đặc biệt chú trọng việc xây dựng các kế hoạch thanh tra, kiểm tra nhằm xử lý, ngăn chặn các hoạt động khai thác cát trái phép; tăng cường bảo vệ đối với các khu vực có khoáng sản chưa đưa vào khai thác; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khoáng sản tiếp tục được đẩy mạnh theo cả chiều rộng và chiều sâu, đặc biệt hướng đến các đối tượng hành nghề bơm hút cát.


hoi_nghi_2.jpghoi_nghi_3.jpg

Ý kiến phát biểu của các thành viên tham dự Hội nghị (Ảnh: Ngọc Khoa)

Mặc dù công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra được các ngành, các cấp thực hiện thường xuyên, đẩy mạnh trong 06 tháng đầu năm 2018, nhưng tình hình khai thác cát trái phép tiếp tục diễn biến phức tạp, đối tượng hoạt động đều khắp ở các tuyến sông trong tỉnh, gây bức xúc trong nhân dân, đặc biệt ở các xã: Thanh Tân (Mỏ Cày Bắc), Vĩnh Bình (Chợ Lách), Thành Thới A (Mỏ Cày Nam), khu vực gần cầu Rạch Miễu (huyện Châu Thành). Công tác kiểm tra, xử lý vi phạm về hóa đơn, chứng từ đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã được cấp phép khai thác, các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình mua bán cát lòng sông vẫn chưa được thực hiện thường xuyên, chỉ tập trung kiểm tra, xử lý các trường hợp khai thác cát trái phép. Một số địa phương chưa quyết liệt trong việc xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật trong hoạt động khoáng sản; chưa triển khai thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, đặc biệt là công tác đăng ký, đăng kiểm, quản lý các phương tiện hành nghề bơm hút cát sông. Công tác phối hợp giữa các ngành, các cấp từng lúc chưa nhịp nhàng, đồng bộ.

hoi_nghi_4.jpg

Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu chỉ đạo Hội nghị

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Lập đề nghị các sở, ngành tỉnh và địa phương cần nghiêm túc rút kinh nghiệm sâu sắc những vấn đề được đánh giá tại hội nghị. Để giải quyết các vấn đề còn tồn tại, vướng mắc trong thời gian qua, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo Thường trực BCĐ quản lý hoạt động khoáng sản, Sở Tư pháp, Công an tỉnh phối hợp với các đơn vị có liên quan kiến nghị Chính phủ xin cơ chế đặc thù trong việc quản lý hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh. Lực lượng kiểm tra liên ngành các cấp, Ủy ban nhân dân các địa phương tăng cường công tác kiểm tra, kiên quyết xử lý, thực hiện ra quân toàn diện, đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, đặc biệt là các khu vực được xác định là “điểm đen”, “điểm nóng”, các khu vực trọng yếu của tỉnh. Giao Sở Giao thông vận tải chủ trì, hướng dẫn địa phương tổ chức đăng ký, đăng kiểm các phương tiện thủy, đặc biệt là các phương tiện hành nghề bơm hút cát sông. Tăng cường sự giám sát của các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc, sự tham gia giám sát của người dân đối với việc phát hiện các hành vi khai thác cát trái phép và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước trong quản lý, kiểm tra, xử lý hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án thăm dò đánh giá trữ lượng đối với 05 mỏ cát trên địa bàn tỉnh để đưa vào đấu giá quyền khai thác theo quy định. Tăng cường công tác phối hợp giữa các địa phương trong địa bàn tỉnh và các tỉnh giáp ranh trong quản lý, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động khoáng sản./.

Ngọc Khoa - Phòng Quản lý TN&KTTV




28/05/2018 8:00 SAĐã ban hành
Kết quả kiểm tra công tác bảo vệ môi trường các cơ sở dịch vụ du lịch  trên địa bàn tỉnh Bến TreKết quả kiểm tra công tác bảo vệ môi trường các cơ sở dịch vụ du lịch  trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Nhằm bảo vệ môi trường du lịch, ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường trong quá trình tiến hành các hoạt động du lịch, bảo đảm phát triển du lịch một cách bền vững, góp phần bảo vệ môi trường của tỉnh.



Để đánh giá, dự báo, phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm và làm sạch môi trường tại các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh, Chi cục Bảo vệ môi trường và Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Châu Thành, Chợ Lách và thành phố Bến Tre; Ủy ban nhân dân xã Tân Thạch, An Khánh, Phú Túc, huyện Châu Thành; Ủy ban nhân dân xã Sơn Định, huyện Chợ Lách; Ủy ban nhân dân xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre tiến hành kiểm tra công tác bảo vệ môi trường và hoạt động du lịch tại 10 cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh.
Trong 10 cơ sở có: 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực du lịch nghĩ dưỡng (khách sạn, ăn uống,….); 03 cơ sở hoạt động lĩnh vực ăn uống; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực lữ hành nội địa; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực ăn uống, khách sạn, karaoke, lữ hành nội địa; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực ăn uống, khách sạn, giải trí môtô nước; 02 cơ sở hoạt động lĩnh vực sản xuất kẹo dừa, giải khát; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực thực hiện hợp đồng và giới thiệu tour cho khách du lịch.
Vì đặc thù của loại hình hoạt động là thường xuyên tiếp đón khách du lịch, nên công tác xây dựng và giữ gìn cảnh quan môi trường của các cơ sở rất tốt, khuôn viên cơ sở thoáng mát, sạch đẹp. Tuy nhiên, ý thức bảo vệ môi trường và ý thức tuân thủ các quy định về hoạt động du lịch của các cơ sở chưa cao, còn nhiều hạn chế.
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: Trong 10 cơ sở, có 01 cơ sở thuộc đối tượng lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và 09 cơ sở thuộc đối tượng lập bản cam kết bảo vệ môi trường. Có 06/10 cơ sở đã đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành hoặc thành phố Bến Tre cấp giấy xác nhận Bản cam kết bảo vệ môi trường. Trong đó, có 01 cơ sở phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường thay thế cho bản cam kết bảo vệ môi trường đã được xác nhận, do quy hoạch diện tích đất của dự án hiện nay là 21 ha, so với diện tích đất của dự án lúc mới thành lập chỉ có 11.490 m2. Có 02/10 cơ sở thực hiện báo cáo chương trình giám sát môi trường định kỳ.
Có 08 cơ sở xây dựng hầm tự hoại để xử lý nước thải, 02 cơ sở thải trực tiếp nước thải ra môi trường. Có 07/10 cơ sở trang bị dụng cụ phòng cháy chữa cháy.
Đối với cơ sở phải thực hiện các quy định đặc thù với quy mô và loại hình hoạt động: có 01/01 cơ sở không đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại và xây dựng phương án ứng phó sự cố môi trường; có 02/02 cơ sở không đăng ký giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; 01/01 cơ sở không đăng ký giấy phép khai thác nước ngầm và nước mặt.
Trong lĩnh vực hoạt động du lịch: Có 05/10 cơ sở chưa niêm yết công khai giá cả hàng hóa, dịch vụ du lịch; có 08/10 cơ sở treo bảng hiệu. Đối với các cơ sở phải thực hiện các quy định đặc thù với loại hình hoạt động: có 01/05 cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm; có 02/02 cơ sở sử dụng hướng dẫn viên du lịch không có thẻ hành nghề, chưa đăng ký xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch và giấy phép kinh doanh rượu, thuốc lá.
Với thực trạng công tác bảo vệ môi trường và hoạt động du lịch của các cơ sở dịch vụ du lịch như trên, thời gian tới, Chi cục Bảo vệ môi trường sẽ phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan thường xuyên kiểm tra các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và hoạt động du lịch của các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, Chi cục Bảo vệ môi trường kiến nghị: Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiến hành phúc tra sau 45 ngày kể từ ngày lập biên bản và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hiện hành đối với các cơ sở không thực hiện các kiến nghị của Đoàn kiểm tra. Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố thường xuyên tiến hành kiểm tra, thanh tra các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn.


09/05/2011 12:00 SAĐã ban hành
Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 26/3 đến ngày 02/4/2019Bản đồ tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre từ ngày 26/3 đến ngày 02/4/2019
Bản tin dự báo độ mặn từ ngày 16 đến ngày 23 tháng 4 năm 2019 (Tuần 16/2019)

I/ TóM TẮT TÌNH HÌNH xâm NHẬP MẶN tỪ 07 GIỜ ngày 09 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 16/04/2019 (TUẦN 15/2019):

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 19.8 ‰ ngày 09.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 9.3 ‰  ngày 09.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 1.9 ‰  ngày 09.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 0.6 ‰ ngày 09.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): 0.9 ‰ ngày 09 (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): 16.4 ‰ ngày 09.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): 6.3 ‰ ngày 09.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 4.3 ‰ ngày 09 (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): 4.0 ‰ ngày 09.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): 2.2 ‰ ngày 09.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): 1.3 ‰ ngày 09-10.

+ Tại Mỹ Hóa (phường 07 – Tp. Bến Tre): 0.9 ‰  ngày 09.

+ Tại Thanh Tân (Ấp Thanh Xuân 1, xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): 0.2 ‰ ngày 09-10.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): 17.0 ‰ ngày 15.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mõ Cày Nam): 3.2 ‰  ngày 15.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): 0.7 ‰ ngày 15.

+ Tại Vàm Thom (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): 0.3 ‰ ngày 11.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 32 - 34km).

- Sông Hàm Luông: xã Thạnh Phú Đông (huyện Giồng Trôm) – xã Bình Khánh Đông (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

- Sông Cổ Chiên: xã Hương Mỹ (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 28 - 30km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 44 - 46km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An – Phường 07 (Tp. Bến Tre) – (Ấp Thanh Sơn 1) xã Thanh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 46 - 48km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36 - 38km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 16 ĐẾN NGÀY 23/04/2019) (TUẦN 16/2019):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế tăng dần từ ngày 16 đến ngày 20, sau đó ít biến đổi.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 19-23 ở mức sâu hơn so với tuần qua. Độ mặn xâm nhập sâu trên các sông ở mức xấp xỉ và thấp hơn năm 2015, năm 2018 cùng thời kỳ.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  20.0 ‰ đến 23.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  10.0 ‰ đến 13.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  4.0 ‰ đến 6.0 ‰.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax từ  0.5 ‰ đến 1.5 ‰.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): Smax từ  1.5 ‰ đến 3.0 ‰.

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): Smax từ 19.0 ‰ đến 22.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ 8.0 ‰ đến 11.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): Smax từ 6.0 ‰ đến 9.0 ‰ (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 6.0 ‰ đến 9.0 ‰.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): Smax từ 4.0 ‰ đến 6.0 ‰.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 2.0 ‰ đến 4.0 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): Smax từ 1.5 ‰ đến 3.0 ‰.

+ Tại Thanh Tân (Ấp Thanh Xuân 1, xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 0.5 ‰ đến 1.5 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): Smax từ 0.5 ‰ đến 1.5 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.2 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): Smax từ  20.0 ‰ đến 23.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  6.0 ‰ đến 9.0 ‰.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  3.5 ‰ đến 5.5 ‰.

+ Tại Vàm Thom (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 1.5 ‰ đến 3.0 ‰.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): Smax từ 0.2 ‰ đến 1.0 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giao Hòa – Giao Long (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 40 - 42km).

- Sông Hàm Luông: Sơn Phú (huyện Giồng Trôm) – xã Định Thủy (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn – Thành Thới A (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 37 - 39km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn – An Khánh (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 48 - 50km).

- Sông Hàm Luông: xã Sơn hòa, An Hiệp (huyện Châu Thành) – (Ấp Thanh Xuân 2) xã Thanh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 54 - 56km).

- Sông Cổ Chiên: xã Nhuận Phú Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 52 - 54km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này: cấp độ 1.

Ban tin man 16-4(Tuan 15_2019).png

Ban tin man 16-4(Tuan 15_2019).png

19/04/2019 3:00 CHĐã ban hành
Cầu Rạch Miễu sẽ thông xe kỹ thuật cuối năm 2007Cầu Rạch Miễu sẽ thông xe kỹ thuật cuối năm 2007
Đó là khẳng định của ông Nguyễn Đình Tuy, Giám đốc Công ty TNHH B.O.T Cầu Rạch Miễu, trong buổi làm việc với báo giới vào sáng ngày 28-2-2007. Ông Nguyễn Đình Tuy cho biết các thủ tục pháp lý và thiết kế Dự án đã xong vào tháng 12-2006.
Ông Nguyễn Đình Tuy cho biết các thủ tục pháp lý và thiết kế Dự án đã xong vào tháng 12-2006. Vốn của Dự án đã được bố trí đủ từ vốn ngân sách nhà nước và vốn BOT. Các đơn vị thi công cũng đã được điều chỉnh lại cho phù hợp với năng lực.

Các hạng mục hiện đang được thi công trên đường găng bao gồm đẩy nhanh thi công 2 trụ tháp T18 và T19, cụ thể đã thi công khối S19, chuẩn bị thi công S20 và KO. Đây là hạng mục quan trọng quyết định tiến độ toàn dự án. Các hạng mục kế tiếp bao gồm thi công đúc hẫng các đốt tiếp theo tại trụ T41 và T42, đồng thời thi công đợt 3 khối KO T40 và KO T43, và lao dầm các nhịp trên cồn Thới Sơn và thi công phần mặt cầu. Trong thi công thân trụ tháp, phần đúc hẫng dầm dây văng (do các chuyên gia của hãng SVL Thụy Sĩ giám sát) dự kiến sẽ hoàn tất vào ngày 30-4-2007; đến ngày 30-6-2007 sẽ hoàn tất xong cầu số 2 và đường dẫn; và ngày 30-12-2007 sẽ thông xe kỹ thuật cầu Rạch Miễu nối liền tỉnh Bến Tre với Tiền Giang.

(theo Website Bến Tre)

19/10/2007 12:00 SAĐã ban hành
Công văn 2831/STNMT-CCBVMT về việc điều chỉnh tên cửa khẩu khẩu nhập khẩu phế liệuCông văn 2831/STNMT-CCBVMT về việc điều chỉnh tên cửa khẩu khẩu nhập khẩu phế liệu
Công văn 2831/STNMT-CCBVMT về việc điều chỉnh tên cửa khẩu khẩu nhập khẩu phế liệu
15/10/2018 8:00 SAĐã ban hành
Ý kiến kết luận, chỉ đạo của Ông Cao Văn Trọng - Trưởng Ban chỉ đạo, Chủ tịch UBND tỉnh tại Hội nghị tổng kết năm 2017 và triển khai kế hoạch ứng phó  biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre năm 2018Ý kiến kết luận, chỉ đạo của Ông Cao Văn Trọng - Trưởng Ban chỉ đạo, Chủ tịch UBND tỉnh tại Hội nghị tổng kết năm 2017 và triển khai kế hoạch ứng phó  biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre năm 2018
Ban chỉ đạo đánh giá công tác ứng phó đạt được những kết quả khả quan trong nâng cao nhận thức và các công trình trọng điểm

      Ngày 31/01/2018, Ban Chỉ đạo ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị tổng kết năm 2017 và triển khai kế hoạch ứng phó năm 2018. Hội nghị do Ông Cao Văn Trọng - Trưởng Ban Chỉ đạo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì cùng sự tham gia của hơn 50 thành viên Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo.

DSC_1266_2018.JPG

Hội nghị Ban chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre (Ảnh: Duy Anh)

       Sau hơn một năm triển khai Kế hoạch hành động 05 năm (2016 - 2020) của tỉnh, Ban chỉ đạo đánh giá công tác ứng phó đạt được những kết quả khả quan trong nâng cao nhận thức và các công trình trọng điểm. Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo nhận định: tác động của biến đổi khí hậu đến tỉnh trong thời gian qua tiêu cực hơn và khó dự báo; mặt khác, công tác ứng phó chưa huy động được toàn bộ hệ thống chính trị, nhân dân tham gia, nguồn lực hạn chế, dữ liệu biến đổi khí hậu rời rạc, tỷ lệ hoàn thành chỉ tiêu theo kế hoạch thấp...   

         Qua Hội nghị, Ông Cao Văn Trọng thay mặt Ban Chỉ đạo kết luận, chỉ đạo công tác ứng phó với biến đổi khí hậu của tỉnh năm 2018 và thời gian tới:

         Về nhiệm vụ chung: các thành viên Ban chỉ đạo, các sở, ban ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố phải tăng cường phối hợp, trao đổi thông tin trong thực hiện Chỉ thị, Chương trình của Tỉnh Ủy và các kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu; chú trọng các hoạt động nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành và nhân dân nhằm đạt sự thay đổi trong cách nghĩ, cách làm để tận dụng thời cơ, giảm thiểu các mối nguy; phát triển kinh tế của tỉnh ưu tiên theo hướng thích ứng và phát thải ít các-bon, trong đó có việc đẩy mạnh phát triển năng lượng sạch (điện gió, mặt trời) tiết kiệm năng lượng, nước và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên; thực hiện Quán triệt Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu; đặc biệt nhiệm vụ mới trong thời gian tới là triển khai ứng phó với biến đổi khí hậu theo Thỏa thuận Paris tại Quyết định số 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

        Ý kiến chỉ đạo nêu rõ nhiệm vụ của từng sở, ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố. Riêng đối với Sở Tài nguyên và Môi trường - cơ quan thường trực Ban chỉ đạo:

    •         + Tập trung đôn đốc, điều phối, hướng dẫn các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân huyện trong thực hiện các chương trình, kế hoạch, dự án; tham mưu xây dựng kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
    •        + Đẩy nhanh tiến độ để hoàn thành, đưa vào vận hành Hệ thống quan trắc cảnh báo mặn tự động (thuộc dự án AMD); triển khai dự án tăng cường năng lực quan trắc môi trường;
    •        + Chủ động phối hợp với nhóm chuyên gia Rumani thực hiện các bước tiếp theo để hoàn thành đề xuất, triển khai dự án "Thành lập thí điểm Khu bảo tồn đa dạng sinh học phục vụ phát triển bền vững du lịch sinh thái và Trung tâm tri thức về phát triển du lịch sinh thái tại Đồng bằng sông MeKong";
    •       + Triển khai xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về biến đổi khí hậu để đáp ứng thông tin, truyền thông và phục vụ công tác quản lý nhà nước.

(Kèm theo Thông báo số 53/TB-UBND ngày 07 tháng 02 năm 2018 về ý kiến kết luận chỉ đạo của Trưởng Ban chỉ đạo)

53_TB_UBND.pdf

Huỳnh Lê Duy Anh - P.QLTN&KTTV

27/02/2018 10:00 SAĐã ban hành
Hội nghị tập huấn nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong hoạt động sản xuất sinh vật cảnhHội nghị tập huấn nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong hoạt động sản xuất sinh vật cảnh
Hội nghị tập huấn nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong hoạt động sản xuất sinh vật cảnh

Ngày 14 tháng 10 năm 2017, tại thành phố Bến Tre, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Hội sinh vật cảnh tỉnh tổ chức hội nghị tập huấn nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong hoạt động sản xuất sinh vật cảnh cho các hội viên Hội sinh vật cảnh trên địa bàn tỉnh.

untitled.JPG

Tham dự hội nghị có lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ môi trường, lãnh đạo Hội sinh vật cảnh tỉnh và gần 220 hội viên hội sinh vật cảnh tỉnh.

Tại lớp tập huấn các học viên đã được nghe báo cáo viên trình bày các nội dung về: Cập nhật thông tin, tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới và tại Việt Nam; tác động của biến đổi khí hậu đến tỉnh Bến Tre; kịch bản biến đổi khí hậu Bến Tre và giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu. Theo đó, Bến Tre là một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và nước biển dâng thể hiện qua việc mực nước biển đã dâng khoảng 20cm so với cách đây 10 năm, nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0,05 – 0,150C, lượng mưa thay đổi thất thường cả về thời gian và cường độ, các hiện tượng cực đoan xuất hiện (bão, áp thấp nhiệt đới, lốc xoáy, mưa trái mùa, khô hạn, nắng nóng gay gắt, xâm nhập mặn,…) đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sản xuất người dân trên địa bàn tỉnh. Tại hội nghị, các tác động của biến đổi khí hậu (chủ yếu là diễn biến thất thường của thời tiết và xâm nhập mặn) đối với hoạt động sản xuất sinh vật cảnh cũng được các đại biểu tập trung thảo luận, phân tích. Đồng thời, các đại biểu cũng chia sẻ những kinh nghiệm trong quá trình sản xuất giúp ứng phó hiệu quả với các hiện tượng thời tiết trên.

untitled1.JPG

Qua hội nghị đã trang bị cho các đại biểu những kiến thức cơ bản liên quan đến tình hình, diễn biến và tác động của biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh, từ đó giúp các đại biểu có thể chủ động thực hiện các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu trong quá trình sản xuất sinh vật cảnh, góp phần có hiệu quả vào công tác ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới./.

19/10/2017 9:00 SAĐã ban hành
Công văn 2525/STNMT-CCBVMT Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan công ty cổ phần Đông Hải cảng nhập Bình Dương, SP-ITC và Cái MépCông văn 2525/STNMT-CCBVMT Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan công ty cổ phần Đông Hải cảng nhập Bình Dương, SP-ITC và Cái Mép
Công văn 2525/STNMT-CCBVMT Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan công ty cổ phần Đông Hải cảng nhập Bình Dương, SP-ITC và Cái Mép

Tải văn bản: 2525_STNMT_CCBVMT_2018.pdf

17/09/2018 8:00 SAĐã ban hành
Thông báo các nhà thầu đáp ứng yêu cầu kỹ thuậtThông báo các nhà thầu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật
Thông báo các nhà thầu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật

​Sở Tài nguyên và Môi trường xin thông báo danh sách các nhà thầu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật tham gia dự thầu thực hiện gói thầu Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre.2676_STNMT.pdf

03/10/2018 3:00 CHĐã ban hành
Một số hoá chất độc hại có nguy cơ gây bệnh ung thưMột số hoá chất độc hại có nguy cơ gây bệnh ung thư
Theo các nhà khoa học, thì một trong những nguyên nhân chính gây bệnh ung thư cho con người là do các loại hoá chất độc hại, nhiễm vào cơ thể qua thực phẩm, qua đất, nước vào thức ăn, nước uống và không khí để thở.



Hiện nay, bất chấp các bằng chứng hiển nhiên về tác động xấu của các hoá chất độc hại, nhưng chúng ta được cung cấp rất ít thông tin an toàn cần thiết về phần lớn trong khoảng 70.000 hoá chất do con người làm ra trên thị trường, đặc biệt là các hoá chất do con người làm ra tại các nước đang phát triển. Sau đây là một số hoá chất độc hại gây ung thư phổ biến nhất ở nước ta hiện nay:
Chất dioxin: Là một loại cực độc có mặt trong hầu hết các môi trường thành phần, trong đó nguồn phát thải dioxin do đốt cháy túi nilong từ các hoạt động của con người là một nguồn phát sinh không kém phần quan trọng. Dioxin ít tan trong nước, tồn tại nhiều và lâu ở đất, trầm tích (có khi đến 30 – 40 năm), xâm nhiễm qua con đường thực phẩm, vào thực vật, rồi vào tôm cá, vào rau quả và cuối cùng vào con người. Cũng có thể ngộ độc trực tiếp do hô hấp, hay qua da do tiếp xúc, hay qua nước uống. Nếu liều lượng cao có thể gây độc cấp tính, nếu liều lượng thấp gây độc mãn tính, nhất là gây ung thư.
Hóa chất gây ung thư có trong thực phẩm và qua chế biến thực phẩm: Các độc chất từ thuốc trừ sâu và phân hóa học. Chúng tồn dư trong môi trường đất, nước rồi tích lũy vào sản phẩm nông nghiệp như lúa, khoai, rau quả. Chúng cũng có mặt trong thực phẩm dưới vai trò là chất bảo quản, diệt nấm mốc hoặc là tạp chất sinh ra trong quy trình nuôi trồng, sản xuất hoặc chế biến thực phẩm.
Chất formon, hàn the: Là hợp chất hữu cơ rất độc, thế nhưng lại bị lạm dụng làm bánh phở, hủ tiếu, bún, bánh ướt để các loại thực phẩm này dai và lâu thiu. Nó làm biến dị các nhiễm sắc thể, gây nên các bệnh gây ung thư cho con người như: ung thư xoang mũi, họng, phổi, ung thư đường tiêu hóa. Còn hàn the thì khi đưa vào cơ thể, khoảng 20% sẽ tích tụ vĩnh viễn và gây tổn thương các tế bào gan, teo tinh hoàn và là tác nhân gây ung thư không kém formon.
Chất 3-MCPD và 1,3-DCP: có trong nước tương do quy trình công nghệ không hợp lý. Chúng được tạo ra từ quá trình thủy phân chất béo (váng dầu) bằng dung dịch axit clohydric. Chất này có khả năng biến đổi gen, và đặc biệt nguy hiểm hơn khi hàm lượng 3-MCPD cao, tạo điều kiện thuận lợi hình thành một chất gây ung thư mạnh hơn đó là 1,3-DCP (1,3- diclopropan-2-0l) gây nên khối u thận, biểu mô miệng, lưỡi và biểu hiện gây ung thư trên cơ thể động vật, tất nhiên nó sẽ gây ung thư cho người rất cao.
Độc tố gây ung thư của nấm mốc: Mỗi buổi nhậu, người ta bày ra một gói đậu phộng rang hay một gói hạt điều cho thực khách nhấm nháp, uống bia… Nhưng nếu các hạt này bị mốc, thấy rõ ở mầm hạt, màu vàng xám hoặc đen, thì ung thư sẽ có thể xảy ra khi ăn nhiều loại này.
Độc tố gây ung thư do rượu: Khi rượu được đưa vào trong cơ thể người, quá trình chuyển hóa của rượu có sinh ra acetaldehyd (Aa), là một carcinogen trong các mô động vật, là chất gây biến dị vi khuẩn và các tế bào động vật có vú. Sau thời gian nghiện rượu mãn tính, Aa có nồng độ cao trong máu tăng nguy cơ gây ung thư gan và các tổ chức khác trong cơ thể. Aa có khả năng làm DNA (vật liệu di truyền ở cấp độ phân tử tham gia quyết định các tính trạng) đột biến, gây ung thư.
Độc chất gây ung thư từ thuốc lá: Nhiễm độc khói thuốc lá không chỉ cho người hút mà nguy hại hơn là nó ô nhiễm môi trường gây cho người hít phải, nhất là trẻ con bị ung thư phổi. Thành phần khói thuốc lá rất phức tạp, có tới hơn 4.000 hợp chất trong đó 200 loại hóa chất có hại cho sức khỏe và nguy hiểm hơn nữa là số lượng chất gây ung thư cho người lên 40 chất.
Một số hoá chất, khí thải gây ung thư cho con người do ô nhiễm môi trường:
- Các chất khí thải của động cơ và các lò đốt công nghiệp sử dụng nhiên liệu than, củi, xăng... Bụi chì từ khói xe, SO2, N2O, Clo từ khói thải nhà máy, bụi phấn, thậm chí cả nước hoa quá liều nữa. Bụi xi măng, chứa nhiều hạt silic có kích thước từ 1-5 micro mét. Những chất khí này khi vào phổi sẽ nằm lại trong các phế nang, phế quản, gây ung thư phổi, ung thư thanh quản…
- Nhựa Polychlorobipheyl (PCB) được sử dụng rộng rãi dưới dạng các sản phẩm như: dầu nhờn, cồn dán, xi đánh giày, chất hút bụi, thuốc trừ sâu, dưới tác dụng của nhiệt độ môi trường sẽ bị phân hủy thành nhiều chất dioxin cực độc hại dẫn đến ung thư ác tính.
- Bụi amian (cả amian trắng, xanh hay nâu) trong không khí hay sợi amian trong nước từ các mái nhà lợp tôn phibroximăng theo nước mưa chảy xuống, là nguyên nhân gây ung thư phế quản, phổi, biểu mô.
- Chất fenol có trong dầu vỏ hạt điều, là một chất độc trong môi trường nước và cả trong môi trường không khí, nó có mặt trong khói khi đốt vỏ hạt điều có khả năng gây ung thư.
Muốn tránh các bệnh nêu trên, đối với mỗi người phải tự xây dựng cho mình một môi trường sống, sinh hoạt phải sạch và lành mạnh, tránh việc sử dụng các đồ ăn, thức uống có nguy cơ gây độc cao.

Mai Hanh (Tổng hợp nguồn:www.vista.gov.vn)




10/12/2008 12:00 SAĐã ban hành
Tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sảnTập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản
Ngày 8 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường số 3 Tỉnh Ủy, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức lớp tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản

08.8.TapHuan_VB_QPPL_QLTN-KS-1.jpg

Ông Trịnh Minh Khôi - Chánh Văn phòng Sở phát biểu khai mạc lớp tập huấn. (Ảnh: Duy Anh)

       Trong thời gian qua, tình hình khai thác cát trái phép trên địa bàn tỉnh nói riêng, cả nước nói chung có những diễn biến phức tạp. Nguyên nhân do nhu cầu sử dụng cát làm vật liệu san lấp rất lớn, trong khi lượng cát bổ cập từ thượng nguồn về ngày càng giảm. Trước tình hình trên, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện nghiêm túc, những quy định pháp luật hiện hành, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều biện pháp, giải pháp để xử lý có hiệu quả với nạn khai thác cát trái phép này.     

        Nhằm góp phần nâng cao năng lực cán bộ trong thực thi công vụ và hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, ngày 8 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường số 3 Tỉnh Ủy, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức lớp tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản.

         Đến tham dự và chủ trì có Ông Lê Văn Đáo - Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cùng sự tham gia của gần 200 Đại biểu là đại diện các sở, ngành liên quan; Công an tỉnh; Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; Ủy ban nhân dân, Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố Bến Tre; Đoàn kiểm tra liên ngành khoáng sản tỉnh, huyện; Ủy ban nhân dân 164 xã, phường, thị trấn; và các Công ty, Hợp tác xã khai thác cát trên địa bàn tỉnh.

08.8.TapHuan_VB_QPPL_QLTN-KS-3.png
                              Quan cảnh lớp tập huấn. (Ảnh: Duy Anh)

        Lớp tập huấn đã phổ biến, cập nhật các chính sách, pháp luật về tài nguyên của Trung ương và Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành trong thời gian gần đây để áp dụng vào công tác thanh tra, kiểm tra và quản lý trên địa bàn tỉnh. Trong đó, nội dung tập huấn tập trung vào các văn bản Quy phạm pháp luật như Nghị định 158/2016/ND-CP ngày 29 tháng 11 năm 2016 quy định chi tiết thi hành một số điều Luật khoáng sản; Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2017 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản; Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 11 năm 2016 xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Quyết định số 27/2017/QĐ-UBND ngày 19 tháng 5 năm 2017 ban hành quy chế quản lý hoạt động khoáng sản tỉnh Bến Tre. Bên cạnh đó, các Đại biểu tham dự tập huấn đã trao đổi, thảo luận, chia sẻ những khó khăn, kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ.

Huỳnh Lê Duy Anh
08/08/2017 4:00 CHĐã ban hành
Truyền thông về "Ngày Nước thế giới 2018" và "Ngày Khí tượng thế giới 2018"Truyền thông về "Ngày Nước thế giới 2018" và "Ngày Khí tượng thế giới 2018"
Truyền thông về "Ngày Nước thế giới 2018" và "Ngày Khí tượng thế giới 2018"
16/03/2018 9:00 SAĐã ban hành
Góp ý Dự thảo Quyết định quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre thay thế Quyết định 59/2017/QĐ-UBNDGóp ý Dự thảo Quyết định quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre thay thế Quyết định 59/2017/QĐ-UBND
Góp ý Dự thảo Quyết định quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre thay thế Quyết định 59/2017/QĐ-UBND

​       Để thống nhất ý kiến trước khi trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, ký ban hành Quyết định, Sở Tài nguyên và Môi trường gửi các Sở, Ngành, Tòa án nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố góp ý Dự thảo Quyết định.

        Ý kiến góp ý của các đơn vị gửi bằng văn bản về Sở Tài nguyên và Môi trường (File số gửi về địa chỉ tthien.stnmt@bentre.gov.vn) trước ngày 25 tháng 5 năm 2018 để Sở tổng hợp.

Tải nội dung: 1171_STNMT_DDBD_VT_2018.7z

 

21/05/2018 3:00 CHĐã ban hành
Kế hoạch thanh tra về tài nguyên và môi trường năm 2019Kế hoạch thanh tra về tài nguyên và môi trường năm 2019
Quyết định số 3549/QĐ-BTNMT ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2019.
29/01/2019 4:00 CHĐã ban hành
Góp ý Dự thảo Quyết định ban hành Quy định về quy trình thu hồi đất đối với các dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng hoặc triển khai chậm tiến độ thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh Bến TreGóp ý Dự thảo Quyết định ban hành Quy định về quy trình thu hồi đất đối với các dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng hoặc triển khai chậm tiến độ thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Góp ý Dự thảo Quyết định ban hành Quy định về quy trình thu hồi đất đối với các dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng hoặc triển khai chậm tiến độ thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Sở Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện soạn thảo lại Dự thảo Quyết định ban hành Quy định về quy trình thu hồi đất đối với các dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng hoặc triển khai chậm tiến độ thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Các ý kiến đóng góp của đơn vị, cá nhân xin gửi về Chi cục Quản lý đất đai - Sở Tài nguyên và Môi trường trước ngày 09 tháng 11 năm 2018, file góp ý gửi về địa chỉ ccqldd.stnmt@bentre.gov.vn.

Duthaoquyetdinh(guigopy).doc 

2810_STNMT_CCQLDD_signed896.pdf

11/10/2018 4:00 CHĐã ban hành
Chính phủ ban hành Nghị định số 136/2018/NĐ-CP sửa đổi một số điều của các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường.Chính phủ ban hành Nghị định số 136/2018/NĐ-CP sửa đổi một số điều của các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường.
Ngày 05 tháng 10 năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 136/2018/NĐ-CP sửa đổi một số điều của các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

Ngày 05 tháng 10 năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 136/2018/NĐ-CP sửa đổi một số điều của các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

Nghị định sửa đổi về điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân thực hiện điều tra, đánh giá đất đai theo hướng giảm có ít nhất từ 05 (năm) cá nhân xuống còn có ít nhất từ 02 (hai) cá nhân có đủ điều kiện thực hiện, điều tra, đánh giá đất đai trong tổ chức có chức năng điều tra, đánh giá đất đai; giảm có ít nhất từ 10 (mười) xuống còn có ít nhất 05 (năm) cá nhân đối với hoạt động xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai cấp huyện, giảm có ít nhất từ 15 (mười lăm) xuống còn có ít nhất từ 10 (mười) cá nhân đối với hoạt động xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai cấp tỉnh và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại Trung ương.

Bên cạnh đó, Nghị định còn sửa đổi một số nội dung quy định về điều kiện cá nhân hành nghề tư vấn xác định giá đất trong tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất; sửa đổi, bãi bỏ một số điểm, khoản quy định điều kiện của tổ chức hoạt động dịch vụ môi trường; bãi bỏ quy định về điều kiện của tổ chức thực hiện đánh giá môi trường chiến lược (Điều 9 Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ); sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản về quản lý chất thải và phế liệu; điều kiện về cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất; điều kiện đối với đội ngũ cán bộ chuyên môn của tổ chức tham gia thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước; điều kiện cấp phép xử lý chất thải nguy hại, điều kiện cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ; điều kiện về hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy sản của tổ chức…

Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 10 năm 2018./.
30/10/2018 5:00 CHĐã ban hành
Họp tổ giúp việc Ban chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến TreHọp tổ giúp việc Ban chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre
Ngày 14 tháng 7 năm 2017, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức cuộc họp các thành viên Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre định kỳ 06 tháng (lần 01) năm 2017

      Ngày 14 tháng 7 năm 2017, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức cuộc họp các thành viên Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre định kỳ 06 tháng (lần 01) năm 2017 do Ông Nguyễn Văn Chinh (Phó trưởng Ban Chỉ đạo - Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường) chủ trì cùng với sự tham dự của 18 thành viên Tổ giúp việc là Lãnh đạo, chuyên viên thuộc các Sở.

19.7.HopToGiupViec_BCĐ-UPBĐKH.jpg

Hình: Họp Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre

(Ảnh: Duy Anh)

     Tổ giúp việc được thành lập đồng thời với kiện toàn Ban Chỉ đạo theo Quyết định số 2903/QĐ-UBND ngày 30 tháng 11 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Thành lập Tổ giúp việc làm đầu mối tại các cơ quan và tham mưu cho Ban Chỉ đạo là điểm mới trong bộ máy ứng phó biến đổi khí hậu của tỉnh so với giai đoạn 2010 - 2015. Tổ giúp việc tổ chức họp theo Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo định kỳ 06 tháng nhằm tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện các nhiệm vụ ứng phó biến đổi khí hậu của tỉnh để kịp thời báo cáo, đề xuất Ban Chỉ đạo, Ủy ban nhân dân tỉnh giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện và kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo.

          Bên cạnh các nội dung nêu trên, cuộc họp đã phổ biến các chủ trương, chính sách mới của Trung ương, tỉnh về biến đổi khí hậu như: Thông báo số 278/TB-VPCP ngày 22 tháng 6 năm 2017 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp lần thứ VIII Ủy ban quốc gia về biến đổi khí hậu; Quyết định số 2053/QĐ-TTg ngày 28 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu của Việt Nam; tiếp tục quán triệt Chỉ thị 10-CT/TU ngày 19 tháng 5 năm 2016 của Tỉnh Ủy về nâng cao năng lực ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; phổ biến nhiệm vụ thực hiện Thỏa thuận Paris của tỉnh theo Công văn số 964/UBND-KT ngày 14 tháng 2 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Duy Anh


19/07/2017 2:00 CHĐã ban hành
Kiểm tra, xử lý các đối tượng khai thác cát trái phép trên sông Cổ ChiênKiểm tra, xử lý các đối tượng khai thác cát trái phép trên sông Cổ Chiên
Trong những năm gần đây, trên tuyến sông Cổ Chiên đoạn khu vực cồn Phú Đa, cồn Phú Bình thuộc địa phận xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách đang trở thành điểm nóng về tình trạng khai thác cát trái phép. Do khu vực này là địa bàn giáp ranh giữa Bến Tre và Vĩnh Long, ít dân cư sinh sống nên các đối tượng bơm hút cát trái phép tập trung khai thác nhiều. Các đối tượng này sử dụng phương tiện có trang bị động cơ, máy bơm hút có công suất lớn để bơm hút nhanh và dễ dàng chạy thoát khi phát hiện có lực lượng kiểm tra. Thời gian hoạt động cao điểm là vào ban đêm, lúc con nước đang lớn.





Ảnh: Đoàn kierm tra triển khai lực lượng trên sông Cổ Chiên

Nắm quy luật trên, đêm ngày 25/3/2011 Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Đoàn kiểm tra liên ngành huyện Chợ Lách tổ chức kiểm tra và phát hiện có ba phương tiện đang bơm hút cát trái phép tại khu vực cồn Phú Đa, cồn Phú Bình. Đoàn kiểm tra lập biên bản tạm giữ phương tiện và chuyển về Uỷ ban nhân dân huyện Chợ Lách để xử lý. Sau đó, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi đối tượng với mức phạt tiền là 10.000.000 đồng.


Ảnh: Một đối tượng đang sử dụng vòi bơm hút để lấy cát ngay đầu cồn Phú Bình



21/04/2011 12:00 SAĐã ban hành
Dự thảo danh mục khu vực thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển tỉnh Bến TreDự thảo danh mục khu vực thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển tỉnh Bến Tre
Dự thảo danh mục khu vực thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển tỉnh Bến Tre
          Sở Tài nguyên và Môi trường đang triển khai thực hiện Dự án “Thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển tỉnh Bến Tre”, dự án đang trong giai đoạn lập danh mục các khu vực phải thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển.
           Để danh mục khu vực hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập đúng, đủ quy định của pháp luật hiện hành. Sở Tài nguyên và Môi trường kính đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý.

14/09/2018 2:00 CHĐã ban hành
Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 30/5 đến ngày 06/6/2017)Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 30/5 đến ngày 06/6/2017)
Bản tin dự báo độ mặn từ ngày 30 tháng 5 đến ngày 06 tháng 6 năm 2017 (Tuần 22/2017)

I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 23 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 30/05/2017 (TUẦN 21/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế ít biến đổi trong 2-3 ngày đầu, sau đó giảm dần.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 23 đến 25 ở xấp xỉ thấp hơn so với tuần trước và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 20.1 ‰  ngày 24.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 8.7 ‰  ngày 25.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 1.9 ‰  ngày 23.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): 0.1 ‰ (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): 19.3 ‰  ngày 24.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): 5.2 ‰  ngày 25.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 3.6 ‰ ngày 24.

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): 4.0 ‰ ngày 23.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): 1.5 ‰ ngày 23.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): 0.1 ‰.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰..

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): 13.9 ‰  ngày 28.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mõ Cày Nam): 5.5 ‰  ngày 24.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): 2.9 ‰ ngày 23, 24.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): 0.2 ‰ ngày 23-25.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

- Sông Hàm Luông: xã Thạnh Phú Đông (huyện Giồng Trôm) – Bình Khánh Đông (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 34-36km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giao Long - Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 42-44km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An (Tp. Bến Tre) – Tân Thành Bình (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 44-46km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới B (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 42-44km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 30/05 ĐẾN NGÀY 06/06/2017 (TUẦN 22/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế tiếp tục giảm dần từ ngày 30/05 đến 02/06, sau đó ít biến đổi rồi tăng dần từ ngày 04 đến 06/06.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 05-06 ở mức tương đương so với tuần qua và xấp xỉ thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  15.0 ‰ đến 18.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  5.0 ‰ đến 8.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  1.0 ‰ đến 3.0 ‰.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

+ Tại Long Hoà (xã Long Hoà – huyện Bình Đại): Smax 0.2 ‰ đến 1.0 ‰. (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): Smax từ 16.0  ‰ đến 19.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ  4.0 ‰ đến 7.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): Smax từ 3.0 ‰ đến 6.0 ‰ (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 3.0 ‰ đến 6.0 ‰.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): Smax 0.2 ‰ đến 1.5 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): Smax 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): Smax 0.2 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp – huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.1 ‰..

+ Tại Hòa Nghĩa (xã Hòa Nghĩa - huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): Smax từ  15.0 ‰ đến 18.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 3.0 ‰ đến 6.0‰.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  2.0 ‰ đến 4.0 ‰.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân): Smax 0.2 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

- Sông Hàm Luông: xã Thạnh Phú Đông (huyện Giồng Trôm) – Bình Khánh Đông (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 34-36km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giao Long - Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 42-44km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An (Tp. Bến Tre) – Tân Thành Bình (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 44-46km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới B (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 42-44km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này:

Sông Cửa Đại: cấp độ 1.

Sông Hàm Luông:cấp độ 1.

Sông Cổ Chiên: cấp độ 1.

tuan22.png

Ban_tin_man_31_6 (Tuan_22_2017).png

02/06/2017 3:30 CHĐã ban hành
Công văn 1402/STNMT-CCQLĐĐ về việc báo cáo đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai ở địa phươngCông văn 1402/STNMT-CCQLĐĐ về việc báo cáo đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai ở địa phương
Báo cáo đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai ở địa phương

​    Để có cơ sở báo cáo Tổng cục Quản lý đất đai đảm bảo chất lượng và thời gian, Sở Tài nguyên và Môi trường gửi đề cương yêu cầu báo cáo theo Công văn số 1678/TCQLĐĐ-CKSQLSDĐ, trong đó Sở đã có trình bày chi tiết các nội dung báo cáo theo chức năng của từng đơn vị, đề nghị các đơn vị quan tâm báo cáo và gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường.

   File gửi theo địa chỉ: nthchau.stnmt@bentre.gov.vn

   Thời gian báo cáo định kỳ hàng năm: Báo cáo 6 tháng gửi trước ngày 10/6 và báo cáo năm gửi trước ngày 10/11.

Tải nội dung: CV_1402_STNMT_CCQLDD.7z


04/06/2018 10:00 SAĐã ban hành
Đề nghị tham gia ý kiến góp ý dự thảo Văn bản quy phạm pháp luậtĐề nghị tham gia ý kiến góp ý dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật
“Đơn giá đo đạc lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính, đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và quy định các khoản phí và lệ phí trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Bến Tre”

          Thực hiện Công văn số 2405/UBND-TH ngày 20 tháng 5 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, về việc rà soát văn bản quy phạm pháp luật về đất đai và tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh ban hành quyết định công bố TTHC được sửa đổi, bổ sung; Trên cơ sở này, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành rà soát toàn bộ nội dung quy định trong Quyết định số 23/2014/QĐ-UBND ngày 06 tháng 8 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre và Nghị Quyết số 03/2014/NQ-HĐND ngày 10 tháng 7 năm 2014 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre để tiến hành chỉnh sửa, bổ sung cho hoàn chỉnh.

          Để đảm bảo quy định và nâng cao chất lượng của văn bản, Sở Tài nguyên và Môi trường xin gửi bản dự thảo tới các Sở, ban ngành tỉnh; UBND các huyện, thành phố và đông đảo tổ chức, cá nhân có quan tâm đến đơn giá đo đạc lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính, đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và quy định các khoản phí và lệ phí trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

          Đề nghị các cơ quan, đơn vị, cá nhân tham gia ý kiến bằng văn bản (File góp ý kiến gửi qua hộp thư điện tử: chicucqlddbentre@gmail.com) gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường trước ngày 07/9/2015 để  Sở tổng hợp, hoàn thiện dự thảo và báo cáo UBND tỉnh đúng thời gian quy định.

Duthaovanban.pdf. Xin trân thành cảm ơn./.

01/09/2015 3:00 CHĐã ban hành
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII
Công văn số 41-Ctr/TU ngày 17 tháng 4 năm 2019 của Tỉnh uỷ Bến Tre về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế.
23/04/2019 10:00 SAĐã ban hành
Triển khai Quyết định 58/QĐ-UBND ngày 07/11/2017 của UBND tỉnhTriển khai Quyết định 58/QĐ-UBND ngày 07/11/2017 của UBND tỉnh
Ngày 07 tháng 11 năm 2017, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 58/QĐ-UBND về việc ban hành Quy định về quản lý tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre

​      Sở Tài nguyên và Môi trường thông tin đến các Sở, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố Quyết định 58/QĐ-UBND để phối hợp thực hiện và triển khai đến các tổ chức, cá nhân có liên quan đến các hoạt động tài nguyên nước thuộc lĩnh vực, địa bàn mình quản lý.

       Trong quá trình triển khai thực hiện nếu có phát sinh vướng mắc xin các cơ quan thông tin bằng văn bản về Sở Tài nguyên và Môi trường để Sở tổng hợp và xin ý kiến chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Tải nội dung: 58_2017_QD_UBND.pdf

                           164_STNMT_QLTN_KTTV.pdf

24/01/2018 2:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nh​iệm chính: Ông Nguyễn Văn Chinh - Chức vụ: Giám đốc Sở TN và MT | Giấy phép số: 139/GP - BC, ngày 16 tháng 4 năm 2007
Địa chỉ trụ sở: Số 01 - Trần Quốc Tuấn - Phường 2 - Thành phố Bến Tre - Tỉnh Bến Tre
Điện thoại: 0275.3822210 - 0275.3211494 - Fax: 0275.3813176; Email: stnmt@bentre.gov.vn