Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Quy hoạch sử dụng đất
Quy định mới về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất; việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất có hiệu lực ngày 17 tháng 7 năm 2014 
 
Ngày 18/12/2013, tại UBND huyện Chợ Lách, Phó chủ tịch UBND huyện ông Lê Phước Toàn chủ trì lễ công bố quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015). Tham dự lễ công bố có đại diện các ban, ngành huyện, UBND các xã và thị trấn. 
 
Ngày 19/12/2013, tại UBND huyện Ba Tri, Phó chủ tịch UBND huyện ông Nguyễn Văn Nghị chủ trì Hội nghị công bố quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015). Tham dự hội nghị có đại diện lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường; Chi cục Quản lý đất đai; các ban, ngành huyện, UBND các xã và thị trấn. 
 
Ngày 07 tháng 02 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/NQ-CP về việc xét duyệt Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) của tỉnh Bến Tre. 
 
Ngày 25 tháng 4 năm 2013, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức Hội Nghị công bố Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011- 2015) của tỉnh Bến Tre, tham dự Hội nghị có lãnh đạo các Sở, ngành tỉnh, lãnh đạo Ủy ban nhân dân, phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố. 
 
Ngày 04 tháng 4 năm 2012, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị thẩm định quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) thành phố Bến Tre. Hội nghị do ông Nguyễn Văn Chinh, Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường – Phó chủ tịch Hội đồng Thẩm định chủ trì, cùng các thành viên trong Hội đồng. Tham dự Hội nghị có ông Nguyễn Trúc Lâm, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Bến Tre đại diện chủ đầu tư, ông Lê Đức Long, Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre đại diện cho đơn vị tư vấn lập quy hoạch sử dụng đất. 
 
Ngày 22 tháng 12 năm 2011, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị thẩm định quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu 2011 – 2015 huyện Bình Đại. Hội nghị do ông Nguyễn Hải Châu Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường – Chủ tịch Hội đồng Thẩm định chủ trì cùng các thành viên Hội đồng thẩm định, ngoài ra còn có sự tham gia của chủ đầu tư là Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại do ông Võ Văn Thanh – Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện đại diện. Ông Lê Đức Long – Giám đốc Văn Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre đại diện cho đơn vị tư vấn lập quy hoạch sử dụng đất. 
 
 
Từ ngày 13 đến 15 tháng 12 năm 2011, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị thẩm định quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu 2011 – 2015 cho 03 huyện: Chợ Lách, Mỏ Cày Bắc và Ba Tri. Hội nghị do ông Nguyễn Văn Chinh Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường – Phó Chủ tịch Hội đồng Thẩm định chủ trì cùng các thành viên Hội đồng thẩm định theo Quyết định thành lập số 2675/QĐ-UBND ngày 11 tháng 11 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, ngoài ra còn có sự tham gia của chủ đầu tư là Ủy ban nhân dân các huyện. Báo cáo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011-2015) các huyện do Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre làm đơn vị tư vấn. 
 
Ngày 24 tháng 11 năm 2011, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre đã tiến hành tổ chức Hội nghị thẩm định Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu 2011 - 2015 huyện Mỏ Cày Nam do Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre làm đơn vị tư vấn. 
 
Ngày 27 tháng 10 năm 2011, Ủy ban nhân dân Thành phố Bến Tre đã tiến hành tổ chức Hội nghị góp ý dự thảo Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu 2011 – 2015 thành phố Bến Tre do Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre - Sở Tài Nguyên & Môi Trường tỉnh Bến Tre làm đơn vị tư vấn. 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
HỘI THẢO VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CHĂN NUÔIHỘI THẢO VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CHĂN NUÔI
Trong khuôn khổ dự án Hợp phần kiểm soát ô nhiễm môi trường trong khu vực đông dân cư nghèo Việt Nam - Đan Mạch
Trong khuôn khổ dự án Hợp phần kiểm soát ô nhiễm môi trường trong khu vực đông dân cư nghèo Việt Nam - Đan Mạch; trên cơ sở Kế hoạch Liên tịch, ngày 30 tháng 9 năm 2007, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Hội Nông dân tỉnh tổ chức Hội thảo bảo vệ môi trường trong chăn nuôi tại xã Phú Lễ, huyện Ba Tri. Đến tham dự hội thảo có Lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, đại diện Lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri, Hội Nông dân tỉnh, Ủy ban nhân dân xã Phú Lễ và hơn 80 bà con nông dân của xã Phú Lễ.

Nội dung hội thảo giới thiệu dự án Hợp phần kiểm soát ô nhiễm môi trường trong khu vực đông dân cư nghèo Việt Nam - Đan Mạch, báo cáo tình hình phát chăn nuôi, triển khai Luật Bảo vệ môi trường, Quy định chăn nuôi của Ủy ban nhân dân tỉnh và giới thiệu mô hình xử lý chất thải trong chăn nuôi.

Qua buổi hội thảo nhằm giúp cho người dân hiểu biết pháp luật bảo vệ môi trường, nâng cao kiến thức về biện pháp xử lý chất thải trong chăn nuôi để góp phần bảo vệ, giữ gìn môi trường trong sạch./.

Sở TN-MT

04/10/2007 12:00 SAĐã ban hành
NGÀY KHÍ TƯỢNG THẾ GIỚI NĂM 2016NGÀY KHÍ TƯỢNG THẾ GIỚI NĂM 2016
Tổ chức Khí tượng Thế giới (tên tiếng Anh: World Meteorological Organization, viết tắt tên tiếng Anh WMO) là tổ chức chuyên môn về khí tượng của Liên Hiệp Quốc. WMO có tiền thân là Tổ chức Khí tượng Quốc tế (IMO) thành lập năm 1873. Tháng 10/1947, Hội nghị Khí tượng thế giới lần thứ 12 đã quyết định đổi tên Tổ chức Khí tượng quốc tế thành Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) và đến ngày 23/3/1950 Quy chế chính thức của WMO có hiệu lực. Cũng từ đó, WMO lấy ngày 23/3 hàng năm là Ngày Khí tượng thế giới.

Việt Nam là thành viên chính thức của tổ chức Khí tượng thế giới từ năm 1975. Từ năm 1961 đến nay, hàng năm, các quốc gia trên toàn thế giới đều tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày Khí tượng thế giới. Ngoài ý nghĩa kỷ niệm ngày bản Công ước thành lập Tổ chức Khí tượng thế giới, đây còn là dịp để tôn vinh những đóng góp của các cơ quan Khí tượng Thủy văn Quốc gia đối với công tác bảo vệ tính mạng và tài sản của con người.

Khí hậu của chúng ta đang biến đổi. Đây không còn là kịch bản xa vời nữa mà là thực tế đang diễn ra ngay trước mắt chúng ta. Hàng thập kỷ qua, chúng ta đã chứng kiến sự nóng lên của Trái Đất. Giai đoạn 2011-2015 là giai đoạn nóng nhất theo số liệu quan trắc được. Và năm 2015, với tác động của hiện tượng El Nino, đã trở thành năm nóng nhất kể từ khi bắt đầu quan trắc khí tượng thủy văn từ thế kỷ 19. Tuy nhiên, nhiệt độ gia tăng mới chỉ là một phần của vấn đề. Biến đổi khí hậu phá vỡ quy luật tự nhiên của các mùa, gia tăng tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan như nắng nóng, hạn hán và mưa lũ. Các thay đổi đang hiện hữu này là điềm báo cho cả nhân loại phải "Đối mặt với tương lai: nóng hơn, khô hơn, mưa lũ nhiều hơn". Và đó cũng chính là chủ đề của Ngày Khí tượng thế giới năm 2016.

Hưởng ứng Ngày Khí tượng thế giới năm 2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức Lễ kỷ niệm và Hội thảo khoa học nhằm cung cấp, chia sẻ, trao đổi thông tin về: Diễn biến gia tăng của nắng nóng, khô hạn, mưa lũ ở Việt Nam dưới tác động của biến đổi khí hậu và khả năng giám sát, cảnh báo, dự báo; Luật Khí tượng Thủy văn được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2015; Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam cập nhật. Đồng thời, tổ chức các hoạt động tuyên truyền về khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu theo chủ đề của ngày Khí tượng Thế giới trên địa bàn các tỉnh, thành phố.

Trên địa bàn tỉnh Bến Tre, thực hiện hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày Khí tượng thế giới 2016, Sở Tải nguyên và Môi trường đã có Công văn hướng dẫn các sở, ban, ngành và Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố tổ chức các hoạt động tuyên truyền theo chủ đề năm 2016 cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và quần chúng nhân dân về nội dung, ý nghĩa, thông điệp nhân Ngày Khí tượng thế giới năm 2016 của Ông PETTERI TAALAS, Tổng thư ký Tổ chức Khí tượng thế giới, trên các phương tiện thông tin đại chúng, treo băng rôn theo chủ đề của Ngày Khí tượng thế giới 2016 tại trụ sở các cơ quan, đơn vị, trường học và các tuyến đường chính, nơi tập trung đông dân cư,... Qua đó, nhằm nâng cao nhận thức cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và quần chúng nhân dân về khí hậu, biến đổi khí hậu, đồng thời ứng dụng kiến thức vào các hành động ứng phó để giảm thiểu tối đa rủi ro của biến đổi khí hậu và thúc đẩy sự phát triển bền vững.

30/03/2016 5:00 CHĐã ban hành
Kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện tiêu chí 17 về môi trường tại 05 xã điểm xây dựng nông thôn mới năm 2015Kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện tiêu chí 17 về môi trường tại 05 xã điểm xây dựng nông thôn mới năm 2015
Nhằm kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện tiêu chí môi trường tại 05 xã điểm xây dựng nông thôn mới trong năm 2015, qua đó giúp các xã tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện để đảm bảo tiến độ hoàn thành các tiêu chí theo kế hoạch đề ra. Từ ngày 25/8 đến ngày 4/9, Sở Tài nguyên và Môi trường tiến hành kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện tại 05 xã là Phú Thuận, Định Thủy, Đại Điền, Tân Thành Bình và Tân Thủy.

          Tham dự buổi kiểm tra có lãnh đạo Chi cục Bảo vệ môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới các xã và trưởng các ấp. Tại buổi kiểm tra, đoàn đã nghe báo cáo về tình hình thực hiện tiêu chí môi trường tại các xã, những khó khăn trong quá trình thực hiện và kiến nghị của địa phương để đoàn đưa ra phương hướng và giải pháp tháo gỡ trong thời gian tới. Đoàn kiểm tra cũng đã đi thực tế tại một số cơ sở, địa điểm công cộng như chợ, bãi rác, khu đất quy hoạch xây dựng nghĩa trang nhân dân và xem cảnh quan trên một số tuyến đường. Qua báo cáo cũng như quá trình kiểm tra thực tế, kết quả thực hiện các tiêu chí của các xã như sau:

          Về tỉ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh, nước sạch theo quy chuẩn Quốc gia (nước máy): các xã đều đạt chỉ tiêu 90% hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh, tuy nhiên tỉ lệ hộ sử dụng nước máy vẫn chưa đạt chỉ tiêu là 50% trong đó xã Định Thủy mới đạt 10,06%; xã Đại Điền đạt 42,1%; xã Tân Thành Bình đạt 48,97%; xã Tân Thủy đạt 40,61%; riêng xã Phú Thuận đạt 62,88%.

          Đối với chỉ tiêu 90% cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, chăn nuôi trên địa bàn đạt chuẩn về môi trường: trên địa bàn xã Phú Thuận có 100% cơ sở sản xuất, chăn nuôi có thủ tục về môi trường và hệ thống xử lý chất thải theo quy định; xã Định Thủy có 38 cơ sở sản xuất cơm dừa, thạch dừa đang hoạt động đăng ký xây dựng hệ thống xử lý chất thải trong đó có 14 cơ sở đang thực hiện, đã triển khai cho 75/80 hộ chăn nuôi heo quy mô trên 50 con thực hiện cam kết bảo vệ môi trường, các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ có hầm biogas để xử lý chất thải; xã Đại Điền có 8/8 cơ sở thực hiện thủ tục, đầu tư công trình bảo vệ môi trường, còn 9 hộ nuôi gà quy mô vừa chưa thực hiện thủ tục về môi trường; xã Tân Thành Bình có 86,04% cơ sở thực hiện thủ tục về môi trường, 69,78% cơ sở có đầu tư hệ thống xử lý chất thải; xã Tân Thủy có 68,75% cơ sở thực hiện thủ tục về môi trường, cơ sở đầu tư công trình xử lý chất thải đạt 83,33%.

          Về cảnh quan môi trường trên địa bàn các xã cơ bản đã có thay đổi tích cực, các tuyến đường được trồng hoa kiểng, cây xanh, hàng tháng có tổ chức tổng vệ sinh với sự tham gia của người dân. Tuy nhiên, trong thời gian tới các xã cần tích cực vận động người dân dọn dẹp vệ sinh, cải tạo hàng rào, cổng ngõ, vườn tược xung quanh nhà,…

          Về chỉ tiêu 100% hộ gia đình có nhà tắm kín đáo, hố xí hợp vệ sinh hiện các xã mới đạt trên 85% cụ thể như sau: xã Phú Thuận đạt 99,66% (còn 6 hộ); xã Định Thủy đạt 85% (còn 452 hộ); xã Tân Thành Bình đạt 88,36% (còn 450 hộ); xã Đại Điền đạt 92,5% (còn 125 hộ); xã Tân Thủy đạt 95,12% (còn 122 hộ).

          Đối với chỉ tiêu nghĩa trang nhân dân, tất cả các xã đều có quy hoạch đất xây dựng với diện tích từ 0,2 đến 3ha.

          Nhìn chung, qua đợt kiểm tra về cơ bản chưa có xã hoàn thành tiêu chí 17. Tuy nhiên, đã có sự chuyển biến trong nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường, diện mạo nông thôn mới ngày càng rõ nét. Cũng qua buổi kiểm tra đoàn đã đưa ra một số giải pháp đối với những vấn đề còn khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ thực hiện hoàn thành tiêu chí 17 trong thời gian sớm nhất kịp tiến độ công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới trong năm 2015. Thời gian còn lại là không nhiều trong khi khối lượng công việc là rất lớn, đòi hỏi phải có sự theo dõi, đôn đốc từ các ngành, các cấp có liên quan và quan trọng nhất là huy động sự tham gia của người dân mới có thể thực hiện thành công tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới.

10/09/2015 10:00 SAĐã ban hành
Bổ sung một số loại khoáng sản vào danh mục nộp phí bảo vệ môi trườngBổ sung một số loại khoáng sản vào danh mục nộp phí bảo vệ môi trường
Một trong những nội dung chính của việc sửa đổi, bổ sung Nghị định 137/2005/NĐ-CP mà Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ tới đây là bổ sung thêm vào danh sách chịu phí 7 loại khoáng sản, đảm bảo công bằng về nghĩa vụ khắc phục hậu quả môi trường do hoạt động khai thác gây ra, đồng thời tạo điều kiện tăng ngân sách cho địa phương. Số liệu từ Bộ Tài chính cho biết chỉ sau một năm thực hiện Nghị định 137 về phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản, ngân sách các địa phương đã thu về thêm 328 tỷ đồng. Hiện chỉ có 10 loại khoáng sản, chủ yếu là khoáng sản phi kim loại phục vụ cho sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác có ảnh hưởng tới môi trường, phải nộp phí...



Vẫn theo dự thảo Nghị định sửa đổi, mức phí bảo vệ môi trường cao nhất của hoạt động khai thác đá quý, man gan, bô xít và các kim loại khác cũng chỉ bằng 10% giá bán. Còn các loại khoáng sản khác, đặc biệt là dầu thô, phí bảo vệ môi trường chỉ bằng 1,7 - 2% giá bán. Về việc giá bán cùng một loại khoáng sản tại các địa phương có sự chênh lệch lớn nhưng lại vẫn áp dụng một mức thu phí, Bộ Tài chính kiến nghị vẫn tiếp tục thu một số tiền nhất định trên một đơn vị khoáng sản khai thác được nhưng Chính phủ chỉ kiến nghị mức thu tối đa, còn cụ thể bao nhiêu sẽ phân quyền cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện. Chỉ có khoản phí thu từ hoạt động khai thác dầu thô sẽ được quy định ngay tại Nghị định, dự kiến 100.000 đồng/ tấn.

Nhiều khả năng trong thời gian tới, Bộ Tài chính sẽ bắt tay xây dựng Pháp lệnh Thuế tài nguyên bởi theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Phạm Duy Khương, cách tính thuế hiện hành chưa khuyến khích doanh nghiệp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.


Nam Kinh



11/09/2007 12:00 SAĐã ban hành
HỘI THẢO VỀ CÔNG TÁC ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒHỘI THẢO VỀ CÔNG TÁC ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ
Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực đo đạc và bản đồ trên địa bản thời gian tới, đảm bảo các công trình đo đạc thật sự hiệu quả, chất lượng sản phẩm được nâng cao đúng theo quy trình quy phạm, đáp ứng kịp thời theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị và người dân. Ngày 26/02/2010 Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức Hội thảo về công tác đo đạc và bản đồ, tham dự hội thảo gồm có: ông Trương Duy Hải GĐ Sở, Nguyễn Văn Chinh P.GĐ Sở. ông Võ Văn Chiến đại diện UBND tỉnh; BQLDA Sở Giao Thông, Sở Xây dựng; Văn phòng ĐKQSDĐ Bến Tre; BQLDA Khu Công nghiệp; Uỷ ban nhân dân, Phòng Tài nguyên và Môi trường, BQLDA các huyện, thành phố và các công ty đo đạc tư nhân trên địa bàn tỉnh Bến Tre.



Trong không khí sôi nổi buổi hội thảo, có rất nhiều ý kiến đóng góp từ đại biểu tham dự là đại diện các cơ quan, ban ngành tỉnh, huyện và các đơn vị đo đạc tư nhân về những khó khăn, vướng mắc liên quan đến công tác đo đạc và bản đồ trong thời gian qua, tập trung những vấn đề sau:
- Công tác phối hợp thực hiện giữa các ngành, cơ quan, đơn vị có liên quan chưa được chặt chẽ và thật sự thông suốt, thống nhất và đồng bộ;
- Việc đọc tìm hiểu và thực hiện theo các hướng dẫn, quy trình quy phạm trong đo đạc địa chính của các đơn vị hoạt động đo đạc là chưa đầy đủ; Việc khai thác, ứng dụng công nghệ, phần mềm, thiết bị chuyên ngành hiện có của các đơn vị đo đạc là chưa hiệu quả so với năng lực đăng ký hoạt động nên chất luợng sản phẩm đo đạc chưa cao.
- Về con người (nhân lực) để thực hiện công tác này còn khiêm tốn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, mà đây là yếu tố không kém phần quan trọng và ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện công trình và chất lượng sản phẩm công trình đo đạc;
- Về công nghệ (trang thiết bị, máy móc): cũng còn hạn chế và không đồng đều giữa các đơn vị với nhau.
- Nhiều công trình xây dựng mới hoặc mở rộng về giao thông, thủy lợi. . . của các ngành khi thi công đã làm hư hỏng, sai lệch nhiều mốc địa chính, điểm tọa độ nhà nước nhưng không báo cáo cơ quan, đơn vị quản lý;
- Công tác đo đạc công trình thu hồi đất - GPMB (đặc biệt là những công trình trọng điểm) theo chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh chưa thật sự đảm bảo đúng thời quy định.
- Công tác đo đạc dịch vụ địa chính theo yêu cầu của người sử dụng đất, người dân bị phản ánh nhiều do giải quyết chậm làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất,…
Một số hình ảnh cảnh quan hội thảo:


















Qua hội thảo, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ tổng hợp những ý kiến đóng góp của Quý vị đại biểu. Trên cơ sở này, Sở Tài nguyên và Môi trường xây dựng kế hoạch và có giảp pháp cụ thể nhằm chấn chỉnh công tác đo đạc và bản đồ để đáp ứng kịp thời sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà trước tình hình mới.

Văn Đỉnh


04/03/2010 12:00 SAĐã ban hành
Một năm thực hiện Dự án VLAPMột năm thực hiện Dự án VLAP
Dự án “Hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai Việt Nam” (gọi tắt là VLAP) đã thực hiện được một năm tại chín tỉnh, thành phố được lựa chọn tham gia dự án; Nhằm đánh giá tiến độ và kết quả thực hiện dự án, chuẩn bị cho kế hoạch hoạt động năm 2010 và 2011 trên địa bàn tỉnh Bến Tre, ngày 10/11/2009 đoàn công tác Ban Quản lý Dự án VLAP cấp Trung ương, Ngân hàng Thế giới (là đơn vị tài trợ cho dự án) và đoàn xác định hỗ trợ Dự án của NewZealand đã đến làm việc tại Ban Quản lý Dự án VLAP Bến Tre.



Qua trao đổi thảo luận những khó khăn và vướng mắc trong quá trình thực hiện; thảo luận kế hoạch hoạt động của Ban Quản lý Dự án VLAP Bến Tre (gọi tắt là PPMU) năm 2010 và 2011, Đoàn công tác đã đánh giá cao kết quả thực hiện của PPMU Bến Tre qua một năm thực hiện dự án như:
- Đã thực hiện xong 2 gói thầu BT-G-001 và BT-G-002: mua sắm thiết bị văn phòng, thiết bị tin học, mua sắm đồ đạc văn phòng cho PPMU; 2 gói thầu thuê tuyển tư vấn cá nhân BT-C-008 và BT-C-009: thuê tuyển nhân viên IT/MIS và nhân viên viên Hỗ trợ hành chính kiêm phiên dịch; đã triển khai 4 gói thầu dịch vụ kỹ thuật, bao gồm: Gói thầu BT-T-003, đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính 9 xã (Hòa Lợi, Đại Điền, Thới Thạnh, Mỹ Hưng, Qưới Điền, Phú Khánh, Mỹ An, Tân Phong và thị trấn Thạnh Phú), huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, và các Gói thầu BT-T-004, BT-T-005, BT-T-006 - Đo đạc bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, cấp đổi/cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính cho các xã: An Điền, An Qui, An Thạnh, Bình Thạnh, An Nhơn, An Thuận, Giao Thạnh, Thạnh Phong, Thạnh Hải) huyện Thạnh Phú và xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre;
- Đồng thời, PPMU Bến Tre đã triển khai các gói thầu giám sát, kiểm tra nghiệm thu, đánh giá chất lượng việc thực hiện hợp đồng đối với các gói thầu dịch vụ kỹ thuật.
PPMU Bến Tre đã đề nghị với Đoàn NZAid hỗ trợ đào tạo nhằm nâng cao năng lực quản lý dự án, vận hành và phát triển hệ thống quản lý đất đai sau khi dự án kết thúc.
Đoàn công tác cơ bản thống nhất kế hoạch hoạt động của Dự án VLAP Bến Tre năm 2010, chuẩn bị cho việc triển khai các gói thầu dịch vụ kỹ thuật trên địa bàn các huyện Chợ Lách, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam và huyện Châu Thành, các nội dung khác theo kế hoạch 5 năm của dự án và những kiến nghị của PPMU Bến Tre.
Đoàn công tác đề nghị PPMU Bến Tre cần quan tâm những nội dung như : công tác giám sát, kiểm tra nghiệm thu, đánh giá chất lượng các gói thầu thuộc dự án; tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng; nâng cao năng lực của PPMU.
Qua việc đánh giá của Đoàn công tác, PPMU Bến Tre tiếp tục chuẩn bị và hoàn thiện kế hoạch hoạt động năm 2010 và 2011 nhằm thực hiện Dự án VLAP một cách hiệu quả nhất./.

Huỳnh Công Phúc



20/11/2009 12:00 SAĐã ban hành
HƯỚNG DẪN Kê khai hiện trạng quản lý, sử dụng đất của tổ chứcHƯỚNG DẪN Kê khai hiện trạng quản lý, sử dụng đất của tổ chức
I- Yêu cầu lập Tờ kê khai<br /> - Kê khai rõ ràng, đầy đủ các nội dung của Tờ khai.<br /> - Tuyệt đối không được tẩy, xoá, kê khai không rõ ràng.<br /> - Số liệu đảm bảo tính chính xác và phù hợp.



- Đính kèm các tài liệu, hồ sơ có liên quan (bản phô tô, có đóng dấu của tổ chức).
- Việc kê khai, xác nhận đảm bảo đúng thẩm quyền quy định.
- Các trang của Tờ kê khai phải đóng dấu giáp lai (dấu của Tổ chức thực hiện kê khai).
- Tất cả các loại hình Tổ chức đều sử dụng chung mẫu Tờ khai này.
II- Hướng dẫn cụ thể việc lập Tờ kê khai
- Góc trên cùng bên trái: Ghi địa chỉ hành chính khu đất đang quản lý, sử dụng.
1- Tên tổ chức kê khai: Ghi tên đầy đủ của cơ quan, đơn vị, tổ chức, công ty đang trực tiếp quản lý, sử dụng khu đất (không viết tắt).
- Thành lập: Ghi đầy đủ số hiệu, ngày tháng năm và cấp Quyết định thành lập (mới nhất).
- Địa chỉ tổ chức kê khai: Ghi đầy đủ số nhà, phố, đường, tổ; xã, quận, huyện, tỉnh.
- Loại hình của tổ chức: Ghi rõ loại hình hoạt động của Tổ chức phù hợp với Quyết định thành lập của cấp có thẩm quyền (cơ quan hành chính, tổ chức xã hội, đơn vị sự nghiệp...)
2- Tình hình quản lý, sử dụng đất của tổ chức
- Kê khai tổng số khu đất mà Tổ chức đang quản lý sử dụng.
- Địa chỉ khu đất kê khai: Ghi đầy đủ theo số nhà, đường phố (tổ), phường (xã, thị trấn), quận (huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh), thành phố trực thuộc Trung ương (tỉnh). Một tổ chức kê khai có thể có nhiều khu đất ở các địa chỉ khác nhau, mỗi khu đất phải lập một tờ kê khai.

2.1. Chỉ tiêu điều tra theo mục đích sử dụng
- Tổng diện tích khuôn viên đất (khu đất) được giao quản lý: Ghi tổng diện tích khu đất theo đơn vị tính m2 hiện đang quản lý, sử dụng.
- Loại đất được giao theo quyết định: Ghi mục đích loại đất được giao theo quyết định.
- Các chỉ tiêu về khu đất: Ghi theo hiện trạng đang quản lý, sử dụng đất chi tiết theo từng mục đích sử dụng và năm đưa vào sử dụng, chỉ kê khai những chỉ tiêu có. Tổng diện tích kê khai của các chỉ tiêu của mục 1, 2, 3 và 4 phải bằng với tổng diện tích khu đất được giao quản lý, sử dụng. Trường hợp sử dụng đan xen không tách biệt được giữa các mục đích sử dụng đất khác nhau thì ghi theo mục đích sử dụng chính.
2.2. Chỉ tiêu điều tra tình hình sử dụng theo hiện trạng
Trường hợp có lấn chiếm thì tổng diện tích đất đang sử dụng quản lý bằng tổng diện tích ở mục A và mục B
- Đối với tổ chức đã được giao, thuê đất để thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất thì phải điều tra chỉ tiêu đối với diện tích xây dựng, đầu tư chưa thực hiện hoặc thực hiện chậm quá quy định theo tiến độ ghi trong dự án.
3- Hình thức quản lý, sử dụng đất: Ghi theo một trong các hình thức của mẫu, trường hợp trên cùng khuôn viên đất có nhiều hình thức sử dụng khác nhau thì chia tách theo từng hình thức đảm bảo tổng diện tích bằng với tổng diện tích khu đất được giao quản lý, sử dụng (đã kê khai tại mục 2). Trường hợp trên cùng khu đất nhưng do nhiều đơn vị sử dụng thì phải ghi vào chỉ tiêu cuối cùng (Diện tích đất quản lý, sử dụng theo hình thức khác) là Sử dụng chung.
4- Hồ sơ, giấy tờ về đất: Ghi đầy đủ các loại giấy tờ pháp lý về đất như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích đã cấp; Hợp đồng thuê đất... Trường hợp không có giấy tờ thì phải ghi rõ là Không có.
5- Nghĩa vụ tài chính đối với khu đất đã thực hiện: Tiền sử dụng đất đã nộp, tiền thuê đất đã nộp (nộp 1 lần cho nhiều năm hoặc nộp hàng năm), tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã trả có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước, các khoản phí và lệ phí về đất...
6- Kiến nghị đề xuất về việc quản lý, sử dụng đất của đơn vị
Do tổ chức kê khai tự đề xuất phương án xử lý đối với những diện tích sử dụng không đúng mục đích, cho thuê, cho mượn, chưa sử dụng... và các đề xuất khác để đảm bảo cho việc sử dụng đất hiệu quả hơn phù hợp với quy định của pháp luật đất đai hiện hành.
7- Cam kết của tổ chức kê khai
(người đứng đầu tổ chức ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu)
Tờ khai của tổ chức được lập thành 02 bản một bản lưu tại Tổ chức thực hiện kê khai và một bản gửi về UBND cấp xã nơi có đất.
8- Cơ quan Tài nguyên và Môi trường sau khi trích lục, chỉnh lý trích lục hoặc trích đo phải có trách nhiệm thông báo cho tổ chức biết.
Các tài liệu trích lục, trích đo, các tài liệu có liên quan khác được thông báo, gửi đến tổ chức thực hiện kê khai.
Cơ quan Tài nguyên và Môi trường phải nêu rõ nguồn gốc số liệu mà cơ quan cung cấp.
Phương thức xác định ranh giới khu đất nêu rõ:
+ Khu đất được khoanh vẽ trên loại bản đồ nào (bản đồ địa chính, bản đồ địa hình, bản đồ qui hoạch), theo trình tự được cắm mốc ngoài thực địa, được đo đạc, lập hồ sơ địa chính, giao đất hay chỉ chuyển mốc từ bản đồ ra thực địa, không đo đạc lại mà lập hồ sơ địa chính, giao đất trên cơ sở các mốc ranh giới này.
+ Các phương thức khác.
9- Xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi có khu đất
Số liệu về diện tích tính theo loại đất của các tổ chức phải được đối chiếu giữa hồ sơ giao đất, cho thuê đất, hồ sơ địa chính, các số liệu kiểm kê trước đây và hiện trạng sử dụng đất trên thực tế.
Nội dung xác nhận:
- Đã điều tra, đối chiếu nội dung kê khai với thực tế
+ Phù hợp.
+ Không phù hợp.
- Chưa kiểm tra, đối chiếu nội dung kê khai với thực tế nhưng thông qua hồ sơ, tài liệu đang quản lý và quá trình quản lý của địa phương để xác nhận nội dung kê khai:
+ Phù hợp.
+ Không phù hợp.
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG




08/04/2008 12:00 SAĐã ban hành
THỊ XÃ BẾN TRE XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN, HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAITHỊ XÃ BẾN TRE XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN, HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI
Ngày 14 tháng 3 năm 2007, Ủy ban nhân tỉnh Bến Tre có Công văn số 820/UBND-TMXDCB về việc ‘Phê duyệt chủ trương xây dựng bãi rác tại ấp 2, xã Hữu Định, huyện Châu Thành’.



Bến Tre nằm ở cuối nguồn sông Cữu Long nên các chất thải ở thượng nguồn và tại chổ có xu hướng tích lũy ở các thủy vực gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặt biệt là nguồn nước mặt. Năm 2007, thị xã Bến Tre lên đô thị loại III và năm 2010 sẽ trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Bến Tre. Cùng với nhịp độ phát triển công nghiệp hóa, đô thị hoá của tỉnh, lượng chất thải rắn phát sinh ngày càng lớn, thành phần đa dạng, khó phân hủy và các vấn đề môi trường đáng quan tâm. Do đó, chúng ta phải có biện pháp thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải hợp lý, khoa học, tạo nên một môi trường sống xanh - sạch - đẹp.
Công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác tại thị xã Bến Tre được Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho Công ty Công trình đô thị Bến Tre thực hiện. Hiện nay công tác quản lý chất thải rắn chưa đáp ứng nhu cầu của tiến trình đô thị hóa, công nghiệp hóa của tỉnh, đặc biệt là công tác xử lý chất thải rắn. Do đó, muốn phát triển bền vững, phải giải quyết đồng bộ các vấn đề môi trường, mà vấn đề xử lý chất thải rắn và giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường bãi rác Phú Hưng là rất quan trọng.
Thị xã Bến Tre có một bãi rác, với diện tích khoảng 26.750,9 m2, tại ấp Phú Thành, xã Phú Hưng, cách trung tâm thị xã Bến Tre khoảng 5 km về hướng Đông Bắc, được sử dụng chôn lắp rác từ năm 1990, bãi rác Phú Hưng do Công ty TNHH Công trình đô thị Bến Tre quản lý trực tiếp. Trước đây, đường nội bộ vào bãi rác có 01 đường chính và 03 đường rẽ để xe rác di chuyển; xung quanh bãi rác không có tường bao.
Hiện nay, bãi rác Phú Hưng chỉ còn 01 đường chính, để các phương tiện vào bãi rác đổ rác. Cuối năm 2007, bằng nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường của tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường và Công ty Công trình đô thị Bến Tre đã xây dựng tường chắn phía Đông, dài 133 m, cao 03 m; đắp bờ bao, trồng mới cây xanh phía Bắc và trồng bổ sung cây xanh ở các phía còn lại, nhằm hạn chế sự ô nhiễm môi trường của bãi rác. Tuy nhiên, chưa đạt tiêu chuẩn môi trường, do đó, các ngành, các cấp phải tiếp tục đầu tư xử lý trình trạng ô nhiễm môi trường của bãi rác Phú Hưng.
Lúc mới hình thành, khối lượng rác thu gom về bãi rác Phú Hưng bình quân hằng năm tăng chậm từ khoảng 10 tấn/ngày (năm 1990), tăng lên 54 tấn/ngày (năm 2005), chủ yếu thu gom trong khu vực nội thị thị xã Bến Tre. Hiện nay, Công ty Công trình đô thị Bến Tre đã tiến hành thu gom rác thải tại 14 phường, xã trên địa bàn thị xã Bến Tre (trừ xã Nhơn Thạnh), 9 xã thuộc huyện Châu Thành, 2 xã thuộc huyện Giồng Trôm, khối lượng rác thu gom về bãi rác khoảng 63 tấn/ngày.
Hiện nay, công nghệ xử lý chất thải rắn tại bãi rác Phú Hưng là đổ tự nhiên, từ trong ra ngoài, thành nhiều lớp để phân hủy tự nhiên và chôn lấp một phần, hiện bãi rác Phú Hưng đã quá tải. Công ty Công trình đô thị Bến Tre chưa áp dụng bất kỳ công nghệ xử lý hoặc tái chế chất thải rắn nào tại bãi rác này.
Bãi rác Phú Hưng là bãi rác hở, nên phát sinh mùi hôi nặng, ruồi, muỗi, chuột, có thể gây nên dịch bệnh cho dân cư khu vực. Công ty Công trình đô thị Bến Tre chưa có biện pháp xử lý nước rò rỉ ra từ bãi rác, nước rò rỉ được thẩm thấu tự nhiên, đe dọa tới nguồn nước mặt, cũng như nước ngầm. Bãi rác Phú Hưng chưa đạt chuẩn bãi chôn lấp hợp vệ sinh, đã, đang và sẽ gây ô nhiễm môi trường khu vực ngày càng nghiêm trọng.
Từ thực trạng trên, vào năm 2002, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre có chủ trương đầu tư xây dựng hệ thống xử lý rác thải cho thị xã Bến Tre, tuy nhiên, các năm qua do gặp khó khăn về vốn đầu tư nên dự án chưa được triển khai thực hiện. Đồng thời, Sở Tài nguyên và Môi trường nói riêng và các ngành, các cấp có liên quan đã đề xuất và kiến nghị mở rộng bãi rác Phú Hưng hoặc xây thêm bãi xử lý rác mới, để đáp ứng nhu cầu xử lý chất thải rắn sinh hoạt của thị xã Bến Tre, các huyện, khu, cụm công nghiệp lân cận đạt tiêu chuẩn môi trường và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường bãi rác Phú Hưng,
Để đáp ứng nhu cầu bức xúc trên, Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre có chủ trương mở rộng bãi rác Phú Hưng thêm 2,007 ha. Sau đó, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre có quyết định phê duyệt phương án bồi thường tổng thể giải phóng mặt bằng mở rộng bãi rác Phú Hưng. Đến cuối tháng 3 năm 2008, công tác bồi thường, giải tỏa bãi rác Phú Hưng mở rộng đã hoàn tất. Hiện nay, Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre giao cho Ban Quản lý Dự án Đầu tư thị xã quản lý công việc xây dựng các công trình liên quan của bãi rác Phú Hưng mở rộng.
Song song với chủ trương mở rộng bãi rác Phú Hưng, Ủy ban nhân tỉnh Bến Tre có công văn thống nhất chủ trương xây dựng bãi xử lý rác Hữu Định, có diện tích 4,2 ha, tại ấp 2, xã Hữu Định, huyện Châu Thành, đồng thời giao cho Sở Xây dựng làm chủ đầu tư dự án. Với tổng số vốn đầu tư của dự án xây dựng bãi rác Hữu Định là 10.658.473.983 triệu đồng, thời gian thực hiện từ tháng 3 năm 2008 đến tháng 11 năm 2009. Công suất xử lý của bãi rác Hữu Định khoảng 62 tấn/ngày.
Quy trình công nghệ xử lý chất thải rắn của bãi rác Hữu Định là công nghệ sản xuất phân hữu cơ vi sinh bằng phương pháp hiếu khí kết hợp với chôn lấp hợp vệ sinh. Chất thải rắn tập trung về bãi rác Hữu Định sẽ được phân loại thành 3 loại chính: chất thải có thể tái chế, chất thải không thể tái chế và chất thải hữu cơ.
Chất thải có thể tái chế: được chuyển về bãi phế liệu để lưu trữ tạm thời trước khi cung cấp cho các đơn vị tái chế. Chất thải không thể tái chế: tiến hành chôn lắp bởi 09 hố chôn được xử lý theo yêu cầu kỹ thuật qui định của bãi chôn lắp rác hợp vệ sinh; nước rỉ ra từ rác được xử lý qua hệ thống xử lý nước thải; khí thải phát sinh từ quá trình xử lý chất thải rắn được thu gom toàn bộ về tháp hấp thụ than hoạt tính xử lý đạt tiêu chuẩn qui định trước khi thải vào môi trường. Chất thải hữu cơ: dùng để sản xuất các sản phẩm phân hữu cơ vi sinh theo nhu cầu của thị trường. Riêng chất thải nguy hại sẽ được công ty thu gom và xử lý đúng theo qui định hiện hành.
Khi dự án triển khai hoạt động sẽ giải quyết tình trạng quá tải và gây ô nhiễm môi trường của Bãi rác Phú Hưng; các vấn đề môi trường liên quan đến chất thải rắn tại các khu, cụm công nghiệp, khu dân cư; bảo vệ môi trường, sức khỏe cộng đồng; sản xuất phân hữu cơ vi sinh. Từ những lợi ích trên, Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre kiến nghị các cơ quan chức năng tạo điều kiện thuận lợi để dự án mở rộng bãi rác Phú Hưng và xây dựng bãi rác Hữu Định được nhanh chóng triển khai thực hiện và đưa vào sử dụng trong thời gian ngắn nhất.
Mai Hanh



02/07/2008 12:00 SAĐã ban hành
Hướng đến một thành phố Bến Tre Xanh - Sạch - ĐẹpHướng đến một thành phố Bến Tre Xanh - Sạch - Đẹp
Thị xã Bến Tre là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của tỉnh. Tỉnh ta đang tiến hành triển khai thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TU của Tỉnh ủy khóa VII “Về đẩy mạnh phát triển đô thị thị xã Bến Tre giai đoạn 2002-2005 và định hướng đến năm 2010”. Công tác quy hoạch chi tiết thị xã từng bước được hoàn thiện. Việc điều chỉnh và phân bổ, sắp xếp lại các khu vực: chính trị, văn hóa – xã hội, dân cư, sản xuất – kinh doanh (SXKD) được khẩn trương thực hiện.



Tốc độ đô thị hóa của Thị xã Bến Tre diễn ra nhanh, công tác chỉnh trang lại đô thị, phân bố lại sản xuất, kết hợp hài hòa giữa sản xuất và bảo vệ môi trường nhằm thúc đẩy phát triển bền vững là một vấn đề bức xúc. Ngày 30 tháng 8 năm 2006, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có Quyết định số 1908/2006/QĐ-UBND ban hành Đề án xử lý, di dời các cơ sở SXKD gây ô nhiễm ra khỏi nội ô thị xã Bến Tre.
Qua hơn 02 năm thực hiện Đề án, chúng ta đã đạt được một số kết quả: tổ chức điều tra, thống kê được tổng số cơ sở SXKD gây ô nhiễm môi trường trong nội ô thị xã Bến Tre chịu sự điều chỉnh của Đề án; ban hành một số văn bản cụ thể hóa Đề án để thực hiện. Xây dựng được các chuyên đề tuyên truyền trên sóng phát thanh truyền hình và Báo Đồng Khởi. Tổ chức quán triệt nội dung Đề án trong nội bộ các ngành chức năng tỉnh, cán bộ chủ chốt các ban ngành, các phường của thị xã và các cơ sở. Thường xuyên tổ chức các cuộc thanh tra, kiểm tra các cơ sở, doanh nghiệp, đến nay đã có khoảng 10% số cơ sở gây ô nhiễm môi trường đã đầu tư hệ thống thu gom, xử lý chất thải hoặc tự tổ chức di dời.
Tuy nhiên, thời gian qua tốc độ triển khai Đề án còn chậm, nhiều nội dung của Đề án chưa thực hiện được; trong đó có một số giải pháp, chính sách thực hiện Đề án không còn phù hợp như vị trí di dời các cơ sở SXKD bắt buộc phải di dời, chính sách hỗ trợ tài chính,… Ngoài ra còn để phát sinh thêm một số cơ sở gây ô nhiễm môi trường mới, trong lúc các cơ sở cũ chưa giải quyết xong.
Đề án chưa hoàn thành mục tiêu đã đặt ra là đến giữa năm 2008 hoàn tất việc xử lý ô nhiễm môi trường tại chỗ và không hoàn tất việc di dời các cơ sở SXKD gây ô nhiễm không có khả năng khắc phục tại chỗ ra khỏi nội ô thị xã Bến Tre vào cuối năm 2009. Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trương điều chỉnh Đề án cho phù hợp với điều kiện và tình hình kinh tế - xã hội thực tế của Thị xã Bến Tre.
Ngày 23 tháng 7 năm 2008, Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Nghị quyết số 10/2008/NQ-HĐND (tại kỳ họp lần thứ 14 - khóa VII) về bổ sung nhiệm vụ và biện pháp tiếp tục thực hiện Đề án xử lý, di dời các cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội ô Thị xã Bến Tre. Theo đó, ngày 01 tháng 10 năm 2008, Ủy ban nhân dân tỉnh ký Quyết định số 1904/QĐ-UBND về việc kiện toàn Ban chỉ đạo Thực hiện Đề án xử lý, di dời các cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội ô thị xã Bến Tre.
Đến ngày 26 tháng 02 năm 2009, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 386/QĐ-UBND về Ban hành Đề án bổ sung xử lý, di dời các cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội ô thị xã Bến Tre và Ban chỉ đạo thực hiện Đề án ban hành Kế hoạch số 597/KH-BCĐ về Thực hiện Đề án bổ sung xử lý, di dời các cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội ô thị xã Bến Tre trong năm 2009. Mục tiêu của Đề án là:
1. Phấn đấu đến cuối năm 2009 hoàn thành xử lý dứt điểm các cơ sở SXKD gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, cuối năm 2010 hoàn thành việc xử lý 90% cơ sở gây ô nhiễm và đến cuối năm 2011 hoàn thành cơ bản mục tiêu của Đề án.
2. Quy hoạch, sắp xếp lại các ngành nghề sản xuất, kinh doanh; tổ chức lại việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho các cơ sở thuộc các ngành nghề SXKD; kiên quyết không để phát sinh mới các cơ sở gây ô nhiễm môi trường trong nội ô thị xã Bến Tre.
3. Di dời các cơ sở sản xuất nhỏ, thủ công vào các cụm công nghiệp tập trung theo quy hoạch để hình thành các cơ sở sản xuất có qui mô lớn, hiện đại, hoạt động ổn định và có khả năng cạnh tranh cao.
4. Phát triển các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn thị xã Bến Tre nói riêng và của tỉnh Bến Tre nói chung phù hợp với yêu cầu quy hoạch.
Quan điểm chung của Đề án là ổn định, phát triển SXKD nhưng đảm bảo vệ sinh môi trường trong giới hạn cho phép, có tính toán đến nhu cầu và khả năng đô thị hóa trong thời gian tới; hạn chế việc SXKD tràn lan, tự phát phá vỡ môi trường và cảnh quan đô thị; cho phép xử lý khắc phục ô nhiễm môi trường tại chỗ đối với các cơ sở SXKD có điều kiện, chỉ di dời những cơ sở không thể khắc phục ô nhiễm môi trường được.
Tất cả các cơ sở SXKD thuộc các phường nội thị thị xã Bến Tre có phát sinh chất thải gây ô nhiễm môi trường vượt tiêu chuẩn cho phép, ảnh hưởng đến dân cư xung quanh, làm mất mỹ quan đô thị và yêu cầu phát triển theo qui hoạch thì chịu sự điều chỉnh của Đề án này. Đề án chỉ rõ: loại hình có thể đầu tư hệ thống xử lý chất thải tại chổ: các cơ sở sản xuất – kinh doanh kẹo dừa và thạch dừa và loại hình bắt buộc phải di dời: các cơ sở gia công cơ khí, mộc, cắt xẻ đá hoa cương; cưa xẻ gỗ; chăn nuôi và giết mổ gia súc; sản xuất mạch nha; kinh doanh phế liệu; đóng tàu, ghe; sản xuất than tổ ong, than thiêu kết và các kho chứa hóa chất. Các cơ sở thuộc loại hình được đầu tư hệ thống xử lý chất thải tại chỗ nhưng không tích cực thực hiện, không đủ điều kiện xử lý chất thải hoặc hệ thống xử lý chất thải không hoàn chỉnh, chất thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường thì bắt buộc phải di dời.
Công tác xử lý và di dời các cơ sở gây ô nhiễm trong nội thị thị xã Bến Tre là một công việc khó vì ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích và thói quen sinh hoạt của các cơ sở SXKD cũng như hàng ngàn lao động làm việc tại các cơ sở SXKD đó. Ủy ban nhân dân tỉnh xác định đây là một công việc phức tạp, phải tổ chức thực hiện trong thời gian dài. Do đó, các cấp Ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể phải thật sự quan tâm, tập trung trong lãnh đạo, chỉ đạo, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc. Các cơ quan quản lý nhà nước, các ngành, các cấp phải phối hợp tích cực, chặt chẽ với Ủy ban Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể trong công tác tuyên truyền, giáo dục, động viên các cơ sở SXKD gây ô nhiễm và người làm việc tại các cơ sở đó chấp hành các quy định pháp luật của nhà nước về bảo vệ môi trường, thực hiện nghiêm túc nội dung và tiến độ thực hiện của Đề án; phối hợp cùng nhân dân trong khu vực thường xuyên giám sát, phản ánh kịp thời những hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.

Mai Hanh



15/04/2009 12:00 SAĐã ban hành
Ô nhiễm môi trường tại các cơ sở kinh doanh phế liệuÔ nhiễm môi trường tại các cơ sở kinh doanh phế liệu
Cũng như nhiều địa phương khác, kinh doanh phế liệu trong nội ô thị xã Bến Tre đang là vấn đề xã hội quan tâm bởi những tác động tiêu cực của nó đối với môi trường sống của con người và mỹ quan đô thị.



Qua kết quả thực hiện Kế hoạch số 452/KH-STNMT ngày 20 tháng 4 năm 2009 về Điều tra, thống kê các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn các phường nội ô thị xã Bến Tre, đến tháng 5 năm 2009 trên địa bàn 10 phường nội ô thị xã Bến Tre (phường 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, Phú Khương và Phú Tân) có 21 cơ sở kinh doanh phế liệu, trong đó: phường 1: 01 cơ sở, phường 2: 01 cơ sở, phường 3: 01 cơ sở, phường 4: 01 cơ sở, phường 6: 09 cơ sở, phường 7: 03 cơ sở, phường 8: 03 cơ sở và phường Phú Khương: 02 cơ sở.
Các cơ sở kinh doanh phế liệu trên địa bàn chỉ thu mua phế liệu để phân loại và bán đi, không có hoạt động sơ chế. Thành phần phế liệu mà các cơ sở này thu mua gồm: gỗ, giấy các loại, nhôm, sắt, thép, ... nhiều nhất là nhựa và một số cơ sở có thu mua cả chất thải nguy hại là các loại thùng chứa dầu, nhớt, hóa chất và rác thải y tế.
Các cơ sở có mặt bằng hẹp từ 50 – 300 m2, nằm xen kẽ trong khu dân cư và được xây dựng bằng nhà tiền chế, không có kho chứa kín, kiên cố. Chủ cơ sở tập trung phế liệu ngoài trời hoặc lấn chiếm lòng đường, vỉa hè làm nơi chứa làm mất mỹ quan đô thị. Phế liệu sau khi phân loại, được chứa trong các bao nilong lớn tập trung thành những đống cao, không an toàn cho người lao động trong cơ sở.
Do thành phần phế liệu rất đa dạng và được tập trung ngoài trời, vào mùa mưa tại các cơ sở này phát sinh một lượng nước mưa chảy tràn rất lớn có lẫn các loại chất thải khác nhau, kể cả chất thải nguy hại. Hiện nay, các cơ sở kinh doanh phế liệu chưa đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải đúng quy định, nước thải được thải tràn ra môi trường hoặc tự thấm vào lòng đất, gây ô nhiễm môi trường nước, đất.
Bên cạnh đó, chất thải của các cơ sở này còn có bụi, tiếng ồn và mùi hôi thối, trong đó nghiêm trọng nhất là mùi hôi từ các thùng đựng hoá chất, ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động và người dân khu vực. Những dư thừa qua công đoạn phân loại phế liệu như: gỉ sắt, cao su, giấy, dây nhựa vụn, .... không được xử lý đúng quy định, được đem chôn, đổ ra vệ đường hoặc đốt gây ô nhiễm môi trường.
Kinh doanh phế liệu hiện nay theo hướng tích cực đang được Nhà nước khuyến khích, nhưng cũng đang là vấn đề xã hội quan tâm bởi những tác động tiêu cực của nó đối với môi trường sống của con người. Những diễn biến phức tạp về ô nhiễm môi trường, cần phải được các cấp, các ngành phối hợp chỉ đạo tuyên truyền, có biện pháp cụ thể qui hoạch địa điểm hoạt động, đủ điều kiện xử lý chất thải, quản lý tốt về hoạt động kinh doanh và an ninh trật tự.
Theo nội dung Đề án bổ sung xử lý, di dời các cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội ô thị xã Bến Tre, thì các cơ sở kinh doanh phế liệu trong nội ô thị xã Bến Tre thuộc đối tượng bắt buộc phải di dời.

Mai Hanh




13/08/2009 12:00 SAĐã ban hành
Khung Kế hoạch hành động tỉnh Bến Tre ứng phó với biến đổi khí hậuKhung Kế hoạch hành động tỉnh Bến Tre ứng phó với biến đổi khí hậu
Thực hiện Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu;






Ngày 27 tháng 7 năm 2009, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ký Quyết định số 1720/QĐ-UBND ban hành Khung Kế hoạch hành động tỉnh Bến Tre ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH).
Mục tiêu chính của Khung kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Bến Tre từ nay đến năm 2015 là định hướng các chương trình, dự án phát triển của tỉnh theo hướng thích ứng với xu thế biến đổi của khí hậu, phòng tránh và giảm các thiệt hại, rủi ro do thiên tai gây ra, đồng thời giảm nhẹ biến đổi khí hậu, góp phần thực hiện các mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững ở địa phương, thực hiện có hiệu quả Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu tại Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu trên, Khung kế hoạch hành động đưa ra 10 nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu như sau:
1. Đối với hệ sinh thái trên biển và dải ven bờ: Kết hợp 3 phương án chiến lược ứng phó với nước biển dâng: bảo vệ đầy đủ, thích nghi và rút lui (né tránh) tùy đặc điểm cụ thể của từng khu vực. Quản lý tổng hợp vùng ven biển. Xác định các vùng đất cấm xây dựng trên dải ven biển. Xây dựng tuyến đường bờ biển kiên cố có tính đến độ cao mực nước biển dâng ở những nơi cần thiết. Nâng cấp hệ thống đê biển và đê vùng cửa sông. Xây dựng hệ thống cảnh báo môi trường phục vụ nuôi trồng thuỷ sản một cách hợp lý. Bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn và vùng đất ngập nước ven biển. Tổ chức quản lý những thay đổi của hệ sinh thái đại dương; mở rộng nghề nuôi trồng thuỷ sản; nghiên cứu đổi mới và quản lý tổng hợp nghề cá giữa đại dương và ven bờ. Đầu tư cho một hệ thống cảnh báo và dự báo thời tiết, khí hậu và hải dương chuyên phục vụ các hoạt động trên biển.
2. Đối với Tài nguyên nước: Đầu tư hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi ngọt hóa cống đập Ba Lai-Cầu sập, nâng cấp các công trình kênh mương điều tiết và hệ thống thoát nước đô thị. Sử dụng nguồn nước khoa học, tiết kiệm và hợp lý. Có quy hoạch và quản lý nguồn nước ngầm và nước mặt. Tăng khả năng dự báo khí hậu, thuỷ văn và tài nguyên nước. Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về cung cấp nước sạch.
3. Đối với ngành nông nghiệp: Bảo tồn và giữ gìn các giống cây trồng, vật nuôi bản địa, ứng dụng khoa học công nghệ trong lai, ghép tạo giống mới. Tổ chức và nâng cấp ngân hàng giống và phát triển giống mới cho năng xuất cao và thích ứng với điều kiện thiếu nước, khô hạn, xâm nhập mặn tại Bến Tre. Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi thích ứng với BĐKH. Tăng cường khả năng tiêu thoát nước mưa ở các vùng đồng bằng, ven biển và các vùng đất thấp ven sông. Tăng cường năng lực cho hệ thống cảnh báo và dự báo thời tiết, khí hậu, thuỷ hải văn và nông nghiệp. Ứng dụng khoa học công nghệ tưới tiết kiệm nước, kỹ thuật canh tác nông nghiệp tăng sản và giảm nhẹ khí nhà kính.
4. Đối với ngành lâm nghiệp: Điều chỉnh các chính sách vĩ mô và xã hội hóa trong trồng rừng, quản lý và bảo vệ rừng, gắn với các chính sách xã hội như: giao đất, giao rừng, định canh, định cư, xoá đói giảm nghèo, khuyến khích và tạo điều kiện để người dân ở khu vực ven biển và làm nghề rừng sống được và làm giàu bằng chính nghề rừng. Tăng cường trồng rừng và cây phân tán. Giảm thiểu tình trạng suy kiệt rừng tự nhiên. Bảo vệ tiến tới đóng cửa khai thác rừng tự nhiên. Bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn ở vùng đất ngập nước. Tăng cường bảo vệ và phòng chống cháy rừng. Xây dựng vùng cung cấp giống lâm nghiệp.
5. Đối với ngành thuỷ sản: Phát triển những giống, loài cá có khả năng chống chịu với môi trường. Du nhập và phát triển giống thuỷ hải sản có giá trị cao, thích nghi với nhiệt độ cao và xâm nhập mặn, gia tăng độ sâu của ao hồ để tạo nhiệt độ thích hợp và giảm tổn hại do quá trình tăng nhiệt độ và bốc hơi nhanh của mặt nước. Phát triển năng lực nhân giống thuỷ sản và nuôi cá thương mại. Thiết lập các khu bảo tồn sinh thái tự nhiên. Tăng cường nghiên cứu dự báo sự di chuyển của đàn cá, những thay đổi của ngư trường. Chuyển đổi cơ cấu canh tác ở một số vùng ngập nước từ thuần lúa sang luân canh. Phát triển nuôi cá nước ngọt trong các đập, hồ, ao theo mô hình nông-lâm-ngư kết hợp. Xây dựng hệ thống phòng tránh, trú bão, sóng và nước dâng.
6. Đối với quy hoạch sử dụng đất: Bố trí tối ưu nhu cầu sử dụng đất cho các dự án, công trình đã được ghi trong qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội và qui hoạch các ngành, lĩnh vực, điều chỉnh các quy hoạch đã có khi cần thiết có tính đến hậu quả của biến đổi khí hậu. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích ứng với BĐKH: Diện tích trồng lúa giảm; diện tích còn lại tập trung bố trí trồng cây ăn trái đặc sản có giá trị kinh tế cao. Ưu tiên bố trí quy hoạch sử dụng đất đối với các công trình thuỷ lợi nhằm mở rộng đất nông nghiệp và đầu tư thâm canh tăng vụ, tăng năng suất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Các chương trình, dự án nghiên cứu trọng điểm, nhất là nghiên cứu các giải pháp ngăn chặn suy thoái đất, ô nhiễm môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên đất theo hướng phát triển bền vững. Nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch đất cho các đô thị, khu vực dân cư, đặc biệt những nơi có nguy cơ bị ảnh hưởng của lũ lụt, sạt lở đất và nước biển dâng.
7. Đối với ngành năng lượng: Nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo tồn năng lượng. Khai thác, sử dụng các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo, như điện gió, điện mặt trời. Tiết kiệm năng lượng trong sinh hoạt, trong giao thông vận tải, trong sản xuất và chiếu sáng công cộng.
8. Đối với ngành giao thông vận tải: Nâng cấp và cải tạo các công trình giao thông vận tải ở các vùng thường bị đe doạ bởi lũ, lụt và nước biển dâng. Khuyến khích phát triển các loại phương tiện sử dụng ít hoặc không sử dụng nhiên liệu hoá thạch, đẩy mạnh nghiên cứu và sử dụng nhiên liệu tái tạo trong các phương tiện vận tải. Rút ngắn lộ trình của các phương tiện giao thông bằng cách giảm số ngày làm việc trong tuần, cải cách thủ tục hành chính nhằm giảm nhu cầu đi lại, tăng cường sử dụng liên lạc viễn thông.
9. Đối với sức khỏe cộng đồng: Tăng cường hệ thống chăm sóc sức khoẻ từ cấp tỉnh đến cấp xã, thôn. Giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về những tổn hại đến sức khoẻ do tác động của biến đổi khí hậu và biện pháp phòng tránh. Tăng cường công tác theo dõi và giám sát dịch bệnh phát sinh do các khí hậu, thời tiết thay đổi cực đoan. Các giải pháp can thiệp y tế khi cần thiết và ở những nơi có điệu kiện.
10. Đối với ngành văn hóa thông tin: Tăng cường công tác truyền thông, giáo dục môi trường. Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về BĐKH và phát triển bền vững. Tuyên truyền, tập huấn về BĐKH và những tác động có hại và các giải pháp ứng phó cho các cán bộ và cộng đồng dân cư.
Biến đổi khí hậu là vấn đề lâu dài, các tác động của BĐKH là rất phức tạp bao gồm cả tác động hiện tại và tác động tiềm tàng. Những hiểu biết của Bến Tre về BĐKH cũng như tác động của chúng đến các hoạt động kinh tế - xã hội còn hạn chế. Do đó, cần có sự điều tra và nghiên cứu sâu về tình hình biến đổi khí hậu tại Bến Tre xây dựng các kịch bản và đề ra các biện pháp ứng phó hiệu quả nhất. Chính vì vậy, trong quá trình xây dựng và thực hiện Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH cần phải có sự điều chỉnh, bổ sung, cập nhật phù hợp với điều kiện thực tế./.

Mai Hanh




09/09/2009 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả của đợt ra quân thứ nhất Đoàn liên ngành Cảnh sát đường thuỷ - Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường - Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thônKết quả của đợt ra quân thứ nhất Đoàn liên ngành Cảnh sát đường thuỷ - Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường - Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
<dd>Để chấn chỉnh, đưa hoạt động khai thác, kinh doanh, vận chuyển cát lòng sông đi vào nề nếp theo tinh thần Chỉ thị số 29/CT-TTg ngày 02/10/2008, Chỉ thị số 447/CT-TTg ngày 25/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 19/10/2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh. Đồng thời, tuyên truyền, giáo dục cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác, vận chuyển, kinh doanh cát lòng sông chấp hành tốt các quy định của pháp luật về khoáng sản, bảo vệ môi trường, đê điều và an toàn giao thông đường thuỷ. Ngày 03/6/2011, Giám đốc Công an tỉnh có Kế hoạch số: 108/KH - CAT giao cho phòng Cảnh sát đường thủy xây dựng kế hoạch, phối hợp với Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động khai thác, kinh doanh, vận chuyển cát lòng sông trên địa bàn tỉnh.



Đồng thời, tuyên truyền, giáo dục cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác, vận chuyển, kinh doanh cát lòng sông chấp hành tốt các quy định của pháp luật về khoáng sản, bảo vệ môi trường, đê điều và an toàn giao thông đường thuỷ. Ngày 03/6/2011, Giám đốc Công an tỉnh có Kế hoạch số: 108/KH - CAT giao cho phòng Cảnh sát đường thủy xây dựng kế hoạch, phối hợp với Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động khai thác, kinh doanh, vận chuyển cát lòng sông trên địa bàn tỉnh.


Một phương tiện đang bơm hút cát trái phép bị lực lượng kiểm tra phát hiện

Từ ngày 27 - 29/6/2011, Đoàn liên ngành Cảnh sát đường thuỷ - Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường - Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiến hành đợt kiểm tra thứ nhất trên tuyến sông Hàm Luông. Kết quả, Đoàn kiểm tra phát hiện, xử lý 10 trường hợp vi phạm trong hoạt động khai thác, vận chuyển cát lòng sông với số tiền là 29.700.000 đồng. Các lỗi vi phạm chủ yếu là khai thác cát trái phép, khai thác trong phạm vi hành lang bảo vệ luồng, người điều khiển phương tiện không bằng thuyền trưởng, không giấy chứng nhận đăng ký phương tiện,...


Các đối tượng bơm hút không chấp hành yều cầu điều phương tiện về địa điểm tạm giữ



Lực lượng kiểm tra điều phương tiện về địa điểm tạm giữ



Hai phương tiện bơm hút cát trái phép bị tạm giữ, chờ xử lý

Bên cạnh đó, Đoàn liên ngành tiến hành kiểm tra hoạt động khai thác, quản lý mỏ cát đối với Hợp tác xã Việt Hùng. Qua kiểm tra, Hợp tác xã Việt Hùng thực hiện tương đối đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật trong hoạt động khai thác khoáng sản. Đồng thời, Đoàn kiểm tra cũng đề nghị Hợp tác xã tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các phương tiện bơm hút vào Hợp tác xã nhằm giảm tình trạng khai thác cát trái phép; Tăng cường công tác quản lý đối với các phương tiện vào khai thác trong mỏ như khai thác đúng vị trí, không mang theo trẻ em khi vào mỏ lấy cát; quy định các phương tiện trước khi lấy cát phải mua phiếu để tránh thất thoát tài nguyên.


11/07/2011 12:00 SAĐã ban hành
GIS là gì ?GIS là gì ?
Kỹ thuật "Thông tin Địa lý" (Geograpgic Information System) đã bắt đầu được<br />sử dụng rộng rãi ở các nước phát triển hơn một thập niên qua, đây là một dạng ứng dụng  công  nghệ  tin  học  (Information  Technology)  nhằm  mô  tả  thế  giới  thực  (Real world) mà loài người đang sống-tìm hiểu-khai thác. Với những tính năng ưu việt, kỹ thuật GIS ngày nay đang được ứng dụng trong nhiều lãnh vực nghiên cứu và quản lý, đặc biệt trong quản lý và quy hoạch sử dụng-khai thác các nguồn tài nguyên một cách bền vững và hợp lý.


Sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin đã đưa tin học thâm nhập sâu vào nhiều lĩnh vực khoa học và đời sống, mở ra một giai đoạn mới trong quá trình phát triển khoa học. Hệ thống thông tin địa lý là một trong những ứng dụng rất có giá trị của công nghệ tin học trong ngành địa lý, điều tra cơ bản, quy hoạch đô thị và cảnh báo môi trường.
Kỹ thuật GIS đã được bắt đầu sử dụng rộng rãi ở các nước phát triển hơn một thập niên qua, với những tính năng ưu việt, kỹ thuật GIS ngày nay đang được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu và quản lý.
Hệ thống thông tin địa lý là một kỹ thuật ứng dụng hệ thống vi tính số hoá, xuất hiện trong những năm 1960 cho đến nay công nghệ này được biết đến như là một kỹ thuật toàn cầu.
Trong sự phát triển của đất nước ta hiện nay, việc tổ chức quản lý thông tin địa lý một cách tổng thể có thể đóng góp không nhỏ vào việc sử dụng có hiệu quả hơn nguồn tài nguyên của đất nước.

LỢI ÍCH VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CỦA VIỆC SỬ
DỤNG KỸ THUẬT GIS:

Kỹ thuật GIS là một công nghệ ứng dụng các tiến bộ của khoa học máy tính, (computer based technology) do đó việc sử dụng GIS trong các mục tiêu nghiên cứu so với các phương tiện cổ điển có thể mang lại những hiệu quả cao do:
Là cách tiết kiệm chi phí và thời gian nhất trong việc lưu trữ số liệu

Có thể thu thập số liệu với số lượng lớn
Số liệu lưu trữ có thể được cập nhật hoá một cách dễ dàng
Chất lượng số liệu được quản lý, xử lý và hiệu chỉnh tốt
Dễ dàng truy cập, phân tích số liệu từ nhiều nguổn và nhiều loại khác nhau
Tổng hợp một lần được nhiều loại số liệu khác nhau để phân tích và tạo ra nhanh chóng một lớp số liệu tổng hợp mới
Tuy nhiên, có những trở ngại xuất hiện trong quá trình sử dụng kỹ thuật GIS, những trở ngại này đặc biệt quan trọng là cần được cân nhắc thận trọng trong quá trình phát triển GIS tại các nước kém và đang phát triển như Việt Nam, đó là:
Chi phí và những vấn đề kỹ thuật đòi hỏi trong việc chuẩn bị lại các số liệu thô hiện có, nhằm có thể chuyển từ bản đổ dạng giấy truyền thống sang dạng kỹ thuật số trên máy tính (thông qua việc số hoá, quét ảnh...)
Đòi hỏi nhiều kiến thức của các kỹ thuật cơ bản về máy tính, và yêu cầu lớn về nguồn tài chính ban đầu.
Chi phí của việc mua sắm và lắp đặt thiết bị và phần mềm GIS khá cao.
Trong một số lĩnh vực ứng dụng, hiệu quả tài chánh thu lại thấp.
Đặc biệt trong nông nghiệp, GIS có 3 điểm thuận lợi chính khi được so sánh với cách quản lý bản đổ bằng tay trước đây:
Chúng là một công cụ khá mạnh trong việc lưu trữ và diễn đạt các số liệu đặc biệt là các bản đổ.
Chúng có thể cho ra những kết quả dưới những dạng khác nhau như các bản đổ, biểu bản, và các biểu đổ thống kê,..
Chúng là một công cụ đắc lực cho các nhà khoa học đặc biệt về lãnh vực nghiên cứu hệ thống canh tác, đánh giá đất đai, khả năng thích nghi của các kiểu sử dụng đất, quản lý và xử lý các bản đồ giai thửa trong quản lý đất đai,..Nó giúp cho các nhà làm khoa học đó khả năng phân tích các nguyên nhân và những ảnh hưởng và kiểm chứng những biến đổi trong hệ thống sinh thái cũng như khả năng thích ứng của việc thay đổi một chính sách đối với người dân.

CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ
THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ-GIS:

Hệ thống thông tin địa lý trước hết là một hệ thống thông tin cũng như các hệ thống thông tin khác, ví dụ như thương mại, pháp luật, ngân hàng, ... Các hệ thống thông tin nói chung đều bao gồm các phần:
Hệ thống thiết bị phần cứng bao gồm máy tính hoặc hệ mạng máy tính, các thiết bị đầu vào, các thiết bị đầu ra.
Hệ thống phần mềm bao gồm phần mềm hệ thống, phần mềm quản trị, phần mềm ứng dụng.
Hệ thống thông tin đầu vào và hệ thống cập nhật thông tin.
Hệ thống CSDL bao gồm các loại dữ kiện cần thiết.
Hệ thống hiển thị thông tin và giao diện với người sử dụng
Sự khác nhau giữa hệ thống thông tin địa lý với các hệ thống thông tin khác chỉ ở hai điểm sau:
CSDL bao gồm các dữ liệu địa lý và các dữ liệu thuộc tính (các dữ liệu chữ - số, dữ liệu multimedial,... ) và mối quan hệ giữa hai loại dữ liệu này.
Hệ thống thông tin đầu vào và hệ thống hiển thị thông tin đòi hỏi những đặc thù riêng về độ chính xác.

Hình 5.1: Sự thể hiện quang cảnh sự vật dưới các lớp bản đồ khác nhau
Một hệ thống thông tin địa lý có thể bao gồm các đặc điểm chính sau:

KHẢ NĂNG CHỒNG LẤP CÁC BẢN ĐỒ (Map
Overlaying):

Việc chồng lắp các bản đồ trong kỹ thuật GIS là một khả năng ưu việt của GIS trong việc phân tích các số liệu thuộc về không gian, để có thể xây dựng thành một bản đồ mới mang các đặc tính hoàn toàn khác với bản đồ trước đây.

Hình 5.2: Nguyên lý khi chồng lắp các bản đồ

Hình 5.3: Việc chồng lắp các bản đồ theo phương pháp cộng

Hình 5.4: Một thí dụ trong việc chồng lắp các bản đồ.

KHẢ NĂNG PHÂN LOẠI CÁC THUỘC TÍNH (Reclassification):

Một trong những điểm nổi bật trong tất cả các chương trình GIS trong việc phân tích các thuộc tính số liệu thuộc về không gian là khả năng của nó để phân loại các thuộc tính nổi bật của bản đồ. Nó là một quá trình nhằm chỉ ra một nhóm thuộc tính thuộc về một cấp nhóm nào đó. Một lớp bản đồ mới được tạo ra mang giá trị mới, mà nó được tạo thành dựa vào bản đồ trước đây.
Việc phân loại bản đồ rất quan trọng vì nó cho ra các mẩu khác nhau. Một trong những điểm quan trọng trong GIS là giúp để nhận biết được các mẩu đó. Đó có thể là những vùng thích nghi cho việc phát triển đô thị hoặc nông nghiệp mà hầu hết được chuyển sang phát triển dân cư. Việc phân loại bản đồ có thể được thực hiện trên 1 hay nhiều bản đồ..

Hình 5.5: Một thí dụ trong việc phân loại lại một bản đồ

TỔ CHỨC CƠ SỞ DỮ LIỆU TRONG GIS
:

Chức năng của hệ thống thông tin địa lý là để cải thiện khả năng người sử dụng để đánh giá đưa đến sự quyết định trong nghiên cứu, qui hoạch và quản lý. Để sắp xếp cho một số hệ thống thông tin, người sử dụng cần phải được cung cấp dữ liệu một cách đầy đủ và hữu hiệu, điều này đạt được bởi phương pháp của hệ thống quản lý dữ liệu (DBMS). Một DBMS có thể được định nghĩa như sau:
Một sự liên kết các dữ liệu đã lưu trữ cùng với nhau mà không gây một trở ngại hoặc việc làm dư thừa không cần thiết nhằm giúp ích cho chương trình được gia tăng khả năng sử dụng lên gấp bội; dữ liệu được lưu trữ để chúng là chương trình độc lập mà dữ liệu được sử dụng một cách phổ biến, và việc điều khiển trong việc thêm dữ liệu mới, hoặc sửa đổi và khôi phục dữ kiện hiện có bên trong hệ thống dữ liệu. Dữ liệu được kết cấu như thế để cung cấp một nền tảng cho việc phát triển sau này "(Martin, 1977)

CÁC LOẠI THÔNG TIN TRONG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ:

Như trên đã giới thiệu dữ liệu trong hệ thống thông tin địa lý bao gồm dữ liệu địa lý và dữ liệu thuộc tính:
Dữ liệu địa lý: bao gồm các thể loại
Ảnh hàng không vũ trụ
Bản đồ trực ảnh (orthophotomap)
Bản đồ nền địa hình lập từ ảnh hàng không - vũ trụ
Bản đồ địa hình lập từ số liệu đo đạc mặt đất
Bản đồ địa chính
Bản đồ địa lý tổng hợp từ các loại bản đồ địa hình.
Các loại ảnh và bản đồ nói trên đều ở dạng số và lưu lại dưới dạng vector hoặc raster hỗn hợp raster-vector. Các dữ liệu địa lý dưới dạng vector được phân lớp thông tin yêu cầu của việc tổ chức các thông tin. Thông thường người ta hay phân lớp theo tính chất thông tin: lớp địa hình, lớp thuỷ văn, lớp đường giao thông, lớp dân cư, lớp thức phụ, lớp giới hành chính v.v.. Trong nhiều trường hợp để quản lý sâu hơn, người ta sẽ phân lớp chuyên biệt hơn như trong lớp thuỷ văn được phân thành các lớp con các lớp sông lớn, sông nhỏ, lớp biển, lớp ao hồ,v.v…
Các thông tin ở dạng raster là các thông tin nguồn và các thông tin hỗ trợ, không gian quản lý như một đối tượng địa lý. Các thông tin ở dạng vector tham gia trực tiếp quản lý và được định nghĩa như những đối tượng địa lý. Các đối tượng này thể hiện ở 3 dạng: điểm, đường và vùng hoặc miền. Mỗi đối tượng đều có thuộc tính hình học riêng như kích thước, miền vị trí. Vấn đề được đặt ra là tổ chức lưu trữ và hiển thị các thông tin vector như thế nào để thoả mãn các yêu cầu sau:
Thể hiện đầy đủ các thông tin cần thiết
Độ dư và độ thừa nhỏ nhất
Truy cập thông tin nhanh
Cập nhật thông tin dễ dàng và không sai sót (xoá bỏ thông tin không cần thiết, bổ sung thông tin mới , chỉnh lý các thông tin đã lạc hậu)
Thuận lợi cho việc hiển thị thông tin
Dữ liệu thuộc tính (Attribute): là các thông tin giải thích cho các hiện tượng địa lý gắn liền với hiện tượng địa lý. Các thông tin này được lưu trữ dữ liệu thông thường. Vấn đề đặt ra là là phải tìm mối quan hệ giữa thông tin địa lý và thông tin thuộc tính. Từ thông tin ta có thể tìm ra được các thông tin kia trong cơ sở dữ liệu.

HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU CỦA GIS
:

Giới thiệu
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu là hệ thống quản lý, lưu trữ, bảo trì toàn bộ cơ sở dữ liệu. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu cũng cung cấp các công cụ cho phép người dùng hỏi đáp, tra cứu và tác động vào cơ sở dữ liệu. Cơ sở dữ liệu cho một hệ thống GIS bao gồm 2 cơ sở dữ liệu thành phần chính là :
Cơ sở dữ liệu địa lý (không gian)
Cơ sở dữ liệu thuộc tính (phi không gian)
Trong hệ thống GIS, hệ quản trị cơ sở dữ liệu GIS được xây dựng bao gồm 2 hệ quản trị cơ sở dữ liệu riêng cho từng phần hoặc xây dựng một hệ quản trị cơ sở dữ liệu chung cho cả hai cơ sở dữ liệu con kể trên. Thông thường hệ quản trị cơ sở dữ liệu GIS được xây dựng bao gồm 3 hệ quản trị cơ sở dữ liệu con:
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu cho cơ sở dữ liệu địa lý.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ ở mức tra cứu, hỏi đáp. Hệ này được tích hợp cùng với hệ quản trị cơ sở dữ liệu địa lý cho phép người ta dùng truy nhập dữ liệu địa lý và dữ liệu thuộc tính đồng thời. Tuy nhiên, hệ quản trị cơ sở dữ liệu này cho thao tác trên cơ sở dữ liệu thuộc tính bị hạn chế.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu thuộc tính. Thông thường các hệ thống GIS đều lấy một hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ hiện có để quản trị và thực hiện các bài toán trên dữ liệu thuộc tính mà không liên quan đến dữ liệu không gian. Ví dụ: FOX, MS SQL, ORACLE.
Về hệ quản trị cơ sở dữ liệu quản lý cơ sở dữ liệu thuộc tính, chúng ta đã xem xét chi tiết trong phần “Hệ thống cơ sở dữ liệu“. Vì vậy, ở đây chúng ta chỉ đi sâu vào hệ quản trị cơ sở dữ liệu cho dữ liệu không gian.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu cho dữ liệu không gian bao gồm các hệ thống con sau:
Hệ thống nhập bản đồ
Hệ thống hiển thị bản đồ
Hệ thống tra cứu, hỏi đáp cơ sở dữ liệu
Hệ thống phân tích địa lý
Hệ thống phân tích thống kê
Hệ thống đầu ra
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu GIS
Hệ thống nhập bản đồ
Hệ thống cung cấp các công cụ để số hoá các đối tượng trên bản đồ. Hiện nay tồn tại hai phương pháp để chuyển bản đồ giấy thành bản đồ số:
Số hoá bản đồ: dùng bàn vẽ (digitizer) đi lại các đối tượng bản đồ trên giấy. Chức năng có thể có trong bản thân hệ thống hoặc dùng 1 phần mềm khác số hoá, sau đó nhập vào kết quả số hoá bởi phần mềm đó.
Vector hoá bản đồ: Bản đồ được quét vào thành dạng file ảnh (scanning) sau đó chuyển sang dạng vector (vectorizing). Quá trình vectorizing có thể thực hiện thủ công qua số hoá trên màn hình (head up digitizing) hoặc dùng phần mềm chuyển tự động/bán tự động từ ảnh sang vector.
Một trong những nguồn dữ liệu quan trọng là dữ liệu được nhập từ các hệ thống khác. Vì vậy hệ thống nhập bản đồ phải có chức năng nhập (import) các dạng (format) dữ liệu khác nhau.
Hệ thống hiển thị bản đồ
Hệ thống cung cấp các khả năng hiển thị bản đồ trên màn hình cho người sử dụng xem. Hiện nay chức năng hiển thị bản đồ đều có khả năng cung cấp cách nhìn 3 chiều (3D). Bản đồ sẽ được thể hiện sinh động, trực quan hơn.
Tra cứu, hỏi đáp cơ sở dữ liệu
Hệ thống cung cấp các công cụ cho người sử dụng tra cứu, hỏi đáp, lấy các thông tin cần thiết trong cơ sở dữ liệu ra. Hệ thống này ảnh hưởng trực tiếp đến tính hiệu quả của hệ thống. Bởi vì phần lớn, người dùng chỉ có yêu cầu tra cứu thông tin. Hệ thống tra cứu phải mềm dẻo, dễ sử dụng, thời gian truy cập dữ liệu nhanh. Hệ thống cho phép tra cứu trên cả hai dữ liệu: dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính
Hệ thống xử lý, phân tích địa lý
Đây là hệ thống thể hiện rõ nhất sức mạnh của GIS. Hệ thống cung cấp các công cụ cho phép người dùng xử lý, phân tích dạng dữ liệu không gian. Từ đó, chúng ta có thể sản sinh ra các thông tin mới (thông tin dẫn suất)
Hệ thống phân tích thống kê
Hệ thống cung cấp các công cụ thống kê trên dữ liệu không gian cũng như dữ liệu thuộc tính. Tuy nhiên các phép phân tích thống kê trên dữ liệu không gian khác biệt so với một số phép phân tích thống kê thông thường trên dữ liệu phi không gian.
Hệ thống in ấn bản đồ
Hệ thống có nhiệm vụ in các bản đồ kết quả ra các thiết bị ra thông dụng như máy in (printer), máy vẽ (Plotter). Yêu cầu đối với hệ thống này là tương thích với nhiều loại thiết bị ngoại vì hiện có trên thị trường.
Huỳnh Đoàn Minh (Sưu tầm và tổng hợp)



28/01/2008 12:00 SAĐã ban hành
Một số hoá chất độc hại có nguy cơ gây bệnh ung thưMột số hoá chất độc hại có nguy cơ gây bệnh ung thư
Theo các nhà khoa học, thì một trong những nguyên nhân chính gây bệnh ung thư cho con người là do các loại hoá chất độc hại, nhiễm vào cơ thể qua thực phẩm, qua đất, nước vào thức ăn, nước uống và không khí để thở.



Hiện nay, bất chấp các bằng chứng hiển nhiên về tác động xấu của các hoá chất độc hại, nhưng chúng ta được cung cấp rất ít thông tin an toàn cần thiết về phần lớn trong khoảng 70.000 hoá chất do con người làm ra trên thị trường, đặc biệt là các hoá chất do con người làm ra tại các nước đang phát triển. Sau đây là một số hoá chất độc hại gây ung thư phổ biến nhất ở nước ta hiện nay:
Chất dioxin: Là một loại cực độc có mặt trong hầu hết các môi trường thành phần, trong đó nguồn phát thải dioxin do đốt cháy túi nilong từ các hoạt động của con người là một nguồn phát sinh không kém phần quan trọng. Dioxin ít tan trong nước, tồn tại nhiều và lâu ở đất, trầm tích (có khi đến 30 – 40 năm), xâm nhiễm qua con đường thực phẩm, vào thực vật, rồi vào tôm cá, vào rau quả và cuối cùng vào con người. Cũng có thể ngộ độc trực tiếp do hô hấp, hay qua da do tiếp xúc, hay qua nước uống. Nếu liều lượng cao có thể gây độc cấp tính, nếu liều lượng thấp gây độc mãn tính, nhất là gây ung thư.
Hóa chất gây ung thư có trong thực phẩm và qua chế biến thực phẩm: Các độc chất từ thuốc trừ sâu và phân hóa học. Chúng tồn dư trong môi trường đất, nước rồi tích lũy vào sản phẩm nông nghiệp như lúa, khoai, rau quả. Chúng cũng có mặt trong thực phẩm dưới vai trò là chất bảo quản, diệt nấm mốc hoặc là tạp chất sinh ra trong quy trình nuôi trồng, sản xuất hoặc chế biến thực phẩm.
Chất formon, hàn the: Là hợp chất hữu cơ rất độc, thế nhưng lại bị lạm dụng làm bánh phở, hủ tiếu, bún, bánh ướt để các loại thực phẩm này dai và lâu thiu. Nó làm biến dị các nhiễm sắc thể, gây nên các bệnh gây ung thư cho con người như: ung thư xoang mũi, họng, phổi, ung thư đường tiêu hóa. Còn hàn the thì khi đưa vào cơ thể, khoảng 20% sẽ tích tụ vĩnh viễn và gây tổn thương các tế bào gan, teo tinh hoàn và là tác nhân gây ung thư không kém formon.
Chất 3-MCPD và 1,3-DCP: có trong nước tương do quy trình công nghệ không hợp lý. Chúng được tạo ra từ quá trình thủy phân chất béo (váng dầu) bằng dung dịch axit clohydric. Chất này có khả năng biến đổi gen, và đặc biệt nguy hiểm hơn khi hàm lượng 3-MCPD cao, tạo điều kiện thuận lợi hình thành một chất gây ung thư mạnh hơn đó là 1,3-DCP (1,3- diclopropan-2-0l) gây nên khối u thận, biểu mô miệng, lưỡi và biểu hiện gây ung thư trên cơ thể động vật, tất nhiên nó sẽ gây ung thư cho người rất cao.
Độc tố gây ung thư của nấm mốc: Mỗi buổi nhậu, người ta bày ra một gói đậu phộng rang hay một gói hạt điều cho thực khách nhấm nháp, uống bia… Nhưng nếu các hạt này bị mốc, thấy rõ ở mầm hạt, màu vàng xám hoặc đen, thì ung thư sẽ có thể xảy ra khi ăn nhiều loại này.
Độc tố gây ung thư do rượu: Khi rượu được đưa vào trong cơ thể người, quá trình chuyển hóa của rượu có sinh ra acetaldehyd (Aa), là một carcinogen trong các mô động vật, là chất gây biến dị vi khuẩn và các tế bào động vật có vú. Sau thời gian nghiện rượu mãn tính, Aa có nồng độ cao trong máu tăng nguy cơ gây ung thư gan và các tổ chức khác trong cơ thể. Aa có khả năng làm DNA (vật liệu di truyền ở cấp độ phân tử tham gia quyết định các tính trạng) đột biến, gây ung thư.
Độc chất gây ung thư từ thuốc lá: Nhiễm độc khói thuốc lá không chỉ cho người hút mà nguy hại hơn là nó ô nhiễm môi trường gây cho người hít phải, nhất là trẻ con bị ung thư phổi. Thành phần khói thuốc lá rất phức tạp, có tới hơn 4.000 hợp chất trong đó 200 loại hóa chất có hại cho sức khỏe và nguy hiểm hơn nữa là số lượng chất gây ung thư cho người lên 40 chất.
Một số hoá chất, khí thải gây ung thư cho con người do ô nhiễm môi trường:
- Các chất khí thải của động cơ và các lò đốt công nghiệp sử dụng nhiên liệu than, củi, xăng... Bụi chì từ khói xe, SO2, N2O, Clo từ khói thải nhà máy, bụi phấn, thậm chí cả nước hoa quá liều nữa. Bụi xi măng, chứa nhiều hạt silic có kích thước từ 1-5 micro mét. Những chất khí này khi vào phổi sẽ nằm lại trong các phế nang, phế quản, gây ung thư phổi, ung thư thanh quản…
- Nhựa Polychlorobipheyl (PCB) được sử dụng rộng rãi dưới dạng các sản phẩm như: dầu nhờn, cồn dán, xi đánh giày, chất hút bụi, thuốc trừ sâu, dưới tác dụng của nhiệt độ môi trường sẽ bị phân hủy thành nhiều chất dioxin cực độc hại dẫn đến ung thư ác tính.
- Bụi amian (cả amian trắng, xanh hay nâu) trong không khí hay sợi amian trong nước từ các mái nhà lợp tôn phibroximăng theo nước mưa chảy xuống, là nguyên nhân gây ung thư phế quản, phổi, biểu mô.
- Chất fenol có trong dầu vỏ hạt điều, là một chất độc trong môi trường nước và cả trong môi trường không khí, nó có mặt trong khói khi đốt vỏ hạt điều có khả năng gây ung thư.
Muốn tránh các bệnh nêu trên, đối với mỗi người phải tự xây dựng cho mình một môi trường sống, sinh hoạt phải sạch và lành mạnh, tránh việc sử dụng các đồ ăn, thức uống có nguy cơ gây độc cao.

Mai Hanh (Tổng hợp nguồn:www.vista.gov.vn)




10/12/2008 12:00 SAĐã ban hành
Quyết định số 2965/QĐ-BTNMT Phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2018Quyết định số 2965/QĐ-BTNMT Phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2018
Ngày 23 tháng 11 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quyết định số 2965/QĐ-BTNMT Phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2018

​Quyết định Phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Có Danh mục các cuộc thanh tra kèm theo).

Tải nội dung chi tiết: 2965_QD_BTNMT.zip

29/11/2017 3:00 CHĐã ban hành
Hiện trạng rừng và đất rừng của tỉnh Bến TreHiện trạng rừng và đất rừng của tỉnh Bến Tre
Để bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, chúng ta cần áp dụng các chính sách sau: trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc; bảo vệ rừng phòng hộ, các vườn quốc gia và khu dự trữ thiên nhiên; khai thác hợp lý rừng sản xuất, hạn chế khai hoang chuyển rừng thành đất nông nghiệp, hạn chế di dân tự do và đóng cửa rừng tự nhiên.



Bến Tre có diện tích rừng không nhiều, nhưng nó có vai trò rất quan trọng trong việc phòng hộ bảo vệ môi trường, phòng chống xói lở, cố định bãi bồi, đặc biệt là giữ vững sự cân bằng sinh thái vùng cửa sông ven biển.
Do đặc điểm điều kiện tự nhiên ở Bến Tre là vùng có khí hậu nhiệt đới và tiếp giáp với biển nên thuận lợi phát triển cả 3 loại rừng: rừng ngập mặn, rừng nước lợ và rừng tự nhiên.
Khu vực cửa sông Tiền Giang: là nơi thuận lợi cho việc phát triển của quần xã cây nước lợ như quần xã bần chua, dừa nước, quần xã ô rô.
Khu vực cửa sông Ba Lai: đây là nơi có độ mặn của đất và nước cao nhất trong tất cả các nhánh sông Cửu Long khác. Điều này đã ảnh hưởng rõ rệt đến phân bố và thành phần các loài cây ngập mặn bao gồm: quần xã bần trắng, quần xã mắm trắng, quần xã cốc vàng, xu ổi trên đất, quần xã giá, tra.
Khu vực cửa sông Hàm Luông: nồng độ muối ở đây thấp hơn các nhánh sông khác. Rừng ngập mặn gồm các cây nước lợ điển hình, các quần xã thực vật chủ yếu ở vùng này là: quần xã bần chua, quần xã bần chu, ô rô gai, quần xã cóc kèn, cỏ mui.
Diện tích rừng tập trung hiện nay của tỉnh là 3.750 ha, gồm một số loài cây chủ yếu như Đước: 1.768 ha, Bần: 523 ha, Mắm: 911 ha…, với tổng trữ lượng ước đạt 286.942 m3. Theo quy hoạch tổng diện tích quy hoạch lâm nghiệp là 7.833 ha, trong đó: rừng phòng hộ: 3.803 ha, rừng đặc dụng: 2.584 ha và rừng sản xuất: 1.446 ha. Mục tiêu từ năm 2008 đến năm 2020, mỗi năm trồng mới khoảng 100 ha rừng tập trung và 01 triệu cây phân tán; nâng độ che của rừng trong vùng quy hoạch lâm nghiệp từ 48% vào năm 2008 lên 49,8% vào năm 2010, 56% vào năm 2015 và 62,5% vào năm 2020.
Nhận thấy, rừng có giá trị to lớn nên hệ sinh thái này luôn được các cấp lãnh đạo từ trung ương đến địa phương quan tâm bảo vệ và đầu tư phát triển. Thế nhưng trong những năm gần đây, mặc dù đã được quản lý và bảo vệ, nhưng những cánh rừng ở Bến Tre đã không ít lần bị phá hoại bởi tình trạng bị những người thiếu ý thức xâm hại đào bới bắt những loài động vật như con chặt khoai, chem chép; đốn phá, lấn chiếm đất rừng nuôi thủy sản.
Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề là lực lượng quản lý bảo vệ rừng mỏng, cán bộ lâm nghiệp cấp huyện và xã còn thiếu so với yêu cầu, biện pháp xử phạt chưa nặng, chủ yếu là kiểm tra, phát hiện rồi giáo dục người dân không được xâm hại đến tài nguyên rừng; nên gây khó khăn cho công tác quản lý bảo vệ rừng.
Để phát triển lâm nghiệp và kinh tế xã hội các huyện ven biển, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đang phối hợp với các ngành có liên quan xây dựng Đề án giao đất giao rừng lâu dài cho các tổ chức và cá nhân sử dụng. Hiện nay, rừng và đất rừng đã được giao khoán (từ 1 – 5 năm) cho các tập thể, cá nhân và hộ gia đình quản lý bảo vệ (đã giao cho 833 tổ chức, cá nhân và hộ gia đình). Vì vậy trên mỗi mảnh đất đều có chủ thật sự, góp phần hạn chế nạn phá rừng.
Mai Hanh



18/11/2009 12:00 SAĐã ban hành
Đoàn Thanh niên Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre – Tiền Giang tổ chức về nguồn và giao lưu tại Bến TreĐoàn Thanh niên Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre – Tiền Giang tổ chức về nguồn và giao lưu tại Bến Tre
Ngày 08 tháng 7 năm 2017, Chi đoàn Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre và Tiền Giang đã tổ chức chuyến về nguồn tại Khu di tích lịch sử đặc biệt cấp quốc gia – Lăng Nguyễn Đình Chiểu tại xã An Đức, huyện Ba Tri

      Nhằm thiết thực chào mừng kỷ niệm 195 năm ngày sinh nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (01/7/1822 – 01/7/2017) và kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh, Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2017). Ngày 08 tháng 7 năm 2017, Chi đoàn Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre và Tiền Giang đã tổ chức chuyến về nguồn tại Khu di tích lịch sử đặc biệt cấp quốc gia – Lăng Nguyễn Đình Chiểu tại xã An Đức, huyện Ba Tri và giao lưu các trò chơi dân gian tại thành phố Bến Tre.

107_Giao_luu_So_TNMT_Tien_Giang_2017_01.png

Các bạn đoàn viên nghe thuyết minh về khu mộ của cụ Đồ Chiểu (Ảnh: Minh Trí)

Tham gia hoạt động về phía Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre có đại diện Đảng ủy, Ban Giám đốc Sở, Công đoàn cơ sở và 30 đoàn viên chi đoàn. Về phía Sở Tài nguyên và Môi trường Tiền Giang có đại diện Đảng ủy, Đoàn khối các cơ quan tỉnh và 100 đoàn viên chi đoàn.

Trong không khí trang nghiêm tại khu di tích lăng Nguyễn Đình Chiểu các bạn đoàn viên đã thành kính thắp hương và nghe kể về cuộc đời của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu – cụ Đồ Chiểu. Qua câu chuyện về cuộc đời của cụ, mỗi người càng tự hào về truyền thống đấu tranh của ông cha, từ đó ra sức phấn đấu không ngừng trao dồi tư tưởng, đạo đức, lòng yêu quê hương, đất nước để xây dựng và phát triển đất nước, xứng đáng với truyền thống của đoàn.

Nằm trong các hoạt động của chuyến đi, đoàn viên của hai đơn vị đã tham gia các trò chơi dân gian như: bắt cá dưới ao, đua thuyền, đi trên giấy, thổi bóng tiếp sức, đôi hia vạn dặm, cũng như tham gia chương trình giao lưu văn nghệ.

107_Giao_luu_So_TNMT_Tien_Giang_2017_02.jpg107_Giao_luu_So_TNMT_Tien_Giang_2017_03.png

Các bạn đoàn viên tham gia các trò chơi dân gian (Ảnh: Minh Trí)

Chuyến đi đã tạo được không khí vui tươi và để lại ấn tượng tốt trong mỗi đoàn viên. Qua đó giúp các bạn đoàn viên hai chi đoàn có cơ hội gặp gỡ, giao lưu và gắn kết với nhau hơn./.

Nguyễn Minh Trí


14/07/2017 8:00 SAĐã ban hành
Phó Chủ tịch Ngân hàng thế giới thực tế tỉnh Bến Tre về phát triển bền vững và biến đổi khí hậuPhó Chủ tịch Ngân hàng thế giới thực tế tỉnh Bến Tre về phát triển bền vững và biến đổi khí hậu
Ngày 8 tháng 12 năm 2017, Đoàn WB do Bà Laura Tuck - Phó chủ tịch phụ trách phát triển bền vững làm trưởng Đoàn đã có chuyến thực tế tại tỉnh Bến Tre. Ông Cao Văn Trọng - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và Lãnh đạo các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường tiếp và làm việc với Đoàn
       Trong thời gian qua, Bến Tre vinh dự nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của Ngân hàng thế giới (WB) trong phát triển bền vững và ứng phó biến đổi khí hậu. Ngày 8 tháng 12 năm 2017, Đoàn WB do Bà Laura Tuck - Phó chủ tịch phụ trách phát triển bền vững làm trưởng Đoàn đã có chuyến thực tế tại tỉnh Bến Tre. Ông Cao Văn Trọng - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và Lãnh đạo các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường tiếp và làm việc với Đoàn. Trước đó vào năm 2014, Bà Rachel Kyte - Phó chủ tịch WB và là đại sứ đặc biệt về biến đổi khí hậu tại thời điểm đã đến thực địa ở tỉnh.
worldbank3.jpg

Hình: Bà Laura Tuck - Phó chủ tịch Ngân hàng thế giới (giữa) trao đổi với Lãnh đạo tỉnh Bến Tre (Ảnh: Văn Ngoan)
 

        Trong chương trình thực tế, Đoàn WB đã đến cống đập Ba Lai, xem lúa-tôm xã Tân Xuân và khảo sát sạt lở ven biển Cồn Ngoài xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri. Thời gian qua, sạt lở ven biển là một trong những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến Bến Tre và có xu hướng gia tăng. Khu vực sạt lở đáng chú ý là Cồn Bửng huyện Thạnh Phú và Cồn Ngoài huyện Ba Tri. Nguyên nhân do mực nước biển ở mức cao kết hợp gió mùa làm gia tăng cường độ sống biển, thêm vào đó vùng ven biển có kết cấu đất yếu và cao độ địa hình thấp, qua đó làm tăng tổn thương cho vùng bờ ven biển. Bên cạnh các tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, một yếu tố khác tác động lâu dài và đang gia tăng áp lực lên tình trạng sạt lở ven biển của tỉnh Bến Tre nói riêng (và cả ĐBSCL) là việc mất dần phù sa bồi đắp do trầm tích bị giữ lại bởi các đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong, vấn đề này đã được các nhà khoa học phản ảnh nhiều trong thời gian qua.


worldbank2.JPGworldbank1.JPG

Hình: Sạt lở ven biển huyện Thạnh Phú (ảnh trái) và huyện Ba Tri thời điểm năm 2017 (Ảnh: Duy Anh)

            Một số dự án do WB hỗ trợ tỉnh Bến Tre đang được triển khai như: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng biển Ba Tri; Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cải thiện sinh kế người dân Bắc Thạnh Phú; và sắp đến là Dự án mở rộng, nâng cấp đô thị Việt Nam - Tiểu dự án thành phố Bến Tre, dự án hướng đến thành phố xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro thiên tai.

            Bến Tre xác định ứng phó biến đổi khí hậu là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển, tỉnh đã xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 - 2020, tuy nhiên với điều kiện hạn chế, khó khăn tỉnh chưa thể hoàn thành tốt và đầy đủ các nhiệm vụ, giải pháp đặt ra. Nhân chuyến thực địa của Bà Laura Tuck, Bến Tre đề xuất tiếp tục hợp tác, hỗ trợ từ WB qua dự án trọng điểm ứng phó lâu dài - "Đầu tư chống xói lở nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu Bến Tre" và các lĩnh vực khác như:

  •         + Chuyển đổi, phát triển các mô hình sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu theo Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng biến đổi khí hậu;         
  •         + Đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao năng lực cán bộ quản lý;
  •         + Ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến, GIS vào công tác cảnh báo, dự báo; đánh giá tác động;xây dựng cơ sở dữ liệu về biến đổi khí hậu phục vụ công tác quản lý;
  •         + Bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững du lịch sinh thái trong điều kiện biến đổi khí hậu và hợp tác vùng trong chia sẻ, sử dụng bền vững nguồn nước sông Mekong trước thách thức từ biến đổi khí hậu.

Huỳnh Lê Duy Anh - P.QLTN&KTTV, Sở TN&MT

12/12/2017 9:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 12/12/2017-15/12/2017Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 12/12/2017-15/12/2017
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 12/12/2017-15/12/2017
18/12/2017 10:00 SAĐã ban hành
BÀN GIAO FILE BẢN ĐỒ QUY HOẠCHBÀN GIAO FILE BẢN ĐỒ QUY HOẠCH
Ngày 08/01/2007, Trung tâm Thông tin thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành bàn giao file bản đồ quy hoạch



- Ngày 08/01/2007, Trung tâm Thông tin thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành bàn giao files bản đồ quy hoạch đô thị Thị xã Bến Tre cho Phòng Tài nguyên và Môi trường Thị xã. Các files bản đồ này trước đây do Sở Xây dựng thực hiện trên phần mềm Autocad(*.dwg) nên chưa tham chiếu trực tiếp được đến các thửa đất trên bản đồ địa chính. Từ tháng 9-2004, Trung tâm Thông tin Tài nguyên và Môi trường tiếp nhận các files bản đồ này và biên tập, chồng ghép lên bản đồ địa chính trên phần mềm chuyên ngành địa chính là Microstation(*.dgn) để xác nhận thông tin quy hoạch được đến từng thửa đất cho người sử dụng đất.


- Trong thời gian tới, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ có kế hoạch biên tập, chồng ghép các files bản đồ quy hoạch xây dựng đã hoàn thành ở các thị trấn, khu dân cư, khu đô thị mới… lên bản đồ địa chính để chuyển giao cho các địa phương thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất đai được hiệu quả vì mục đích phục vụ nhân nhân ngày càng tốt hơn./.


Trung tâm Thông tin



19/09/2007 12:00 SAĐã ban hành
HỘI NGHỊ THẨM ĐỊNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM KỲ ĐẦU (2011 - 2015) THÀNH PHỐ BẾN TRE –TỈNH BẾN TREHỘI NGHỊ THẨM ĐỊNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM KỲ ĐẦU (2011 - 2015) THÀNH PHỐ BẾN TRE –TỈNH BẾN TRE
Ngày 04 tháng 4 năm 2012, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị thẩm định quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) thành phố Bến Tre. Hội nghị do ông Nguyễn Văn Chinh, Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường – Phó chủ tịch Hội đồng Thẩm định chủ trì, cùng các thành viên trong Hội đồng. Tham dự Hội nghị có ông Nguyễn Trúc Lâm, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Bến Tre đại diện chủ đầu tư, ông Lê Đức Long, Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre đại diện cho đơn vị tư vấn lập quy hoạch sử dụng đất.



Tại Hội nghị, đơn vị tư vấn là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre đã trình bày các nội dung cơ bản quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố Bến Tre.
Kết luận tại Hội nghị, Ông Nguyễn Văn Chinh đã thống nhất với dự thảo Báo cáo thuyết minh quy hoạch sử dụng đất thành phố Bến Tre đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015), nội dung báo cáo bám sát đề cương và thông tư 19/2009/TT-BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 của của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Thống nhất với Sở nội vụ là cho phép chuyển toàn bộ diện tích xã Mỹ Thành và một phần xã Hữu Định về thành phố Bến Tre trong kỳ quy hoạch. Đồng thời đề nghị đơn vị tư vấn cần xem xét chỉnh sửa các nội dung về đánh giá và thuyết minh hiện trạng sử dụng đất cùng với đánh giá kỳ trước; rà soát lại quy hoạch của các ngành trên cơ sở xác định nhu cầu sử dụng đất trên địa bàn thành phố Bến Tre, đặc biệt liên hệ Sở xây dựng bổ sung một số công trình vừa dự thảo thông qua trên địa bàn thành phố Bến Tre… để bổ sung cho phù hợp và phối hợp Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre hoàn chỉnh nội dung trình phê duyệt theo quy định.


17/04/2012 12:00 SAĐã ban hành
GIÁ ĐẤT NĂM 2013 CỦA TỈNH BẾN TRE CÓ GÌ MỚI ?GIÁ ĐẤT NĂM 2013 CỦA TỈNH BẾN TRE CÓ GÌ MỚI ?
Ngày 19 tháng 12 năm 2012, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 35/2012/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về giá các loại đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2013.



Giá đất năm 2013 trên địa bàn tỉnh Bến Tre được xây dựng theo hướng dẫn tại Công văn số 1929/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 06 tháng 5 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc triển khai xây dựng bảng giá đất năm 2013 của đại phương là tập trung tổ chức điều tra giá đất tại các khu vực có điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, thay đổi mục đích sử dụng đất, loại đô thị, loại đường phố; khu vực có đầu tư nâng cấp các công trình kết cấu hạ tầng. Đối với các khu vực còn lại, căn cứ kết quả xây dựng bảng giá đất năm 2012 để xây dựng bảng giá đất năm 2013 bảo đảm ổn định và phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.
Phương pháp xác định giá các loại đất năm 2013 của tỉnh Bến Tre là điều tra, khảo sát tại các địa phương giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường; có so sánh trực tiếp, kết hợp phân tích các vị trí đất cụ thể có khả năng sinh lợi, điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng thuận lợi cho sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh và khoảng cách so với trục lộ giao thông, các nút đường giao tại những khu vực có điều chỉnh quy hoạch, khu vực có đầu tư nâng cấp công trình kết cấu hạ tầng. Vì vậy, Quy định giá các loại đất năm 2013 trên địa bàn tỉnh tương đối phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường trong điều kiện bình thường.
Bảng Quy định giá các loại đất năm 2013 khắc phục những hạn chế của Bảng giá đất năm 2012 như vị trí thửa đất, đường xã được quy định cụ thể, rõ ràng; cách tính giá đất ở các hẻm, khống chế giá đất ở tối thiểu tại các hẻm thuộc phường và khu phố các thị trấn; các đoạn đường quy định trong phụ lục 1 rõ ràng ( mô tả cả 2 bên đường, ghi theo địa danh phổ thông tại địa phương và ghi theo hồ sơ địa chính) tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất và các cơ quan chuyên môn trong việc xác đinh giá từng thửa đất; giá đất ở tại các chợ trên địa bàn tỉnh được điều tra quy định đầy đủ chi tiết từng tuyến đường tiếp giáp chợ; đã giải quyết được bất hợp lý giá đất ở những thửa đất ven đường giao thông nhưng bị ngăn cách bởi kênh (mương lộ) công cộng so với những thửa đất sát mép lộ. Ngoài ra, còn cập nhật một số tuyến đường mới phát sinh như: Đường cầu Bến Tre 1,Tuyến tránh ĐT 885 huyện Giồng Trôm...
Nhìn chung, giá đất năm 2013 thay đổi không lớn so với năm 2012. Theo bảng giá mới này thì giá đất thổ cư cao nhất tại thành phố Bến Tre là 23 triệu đồng/m2 (đường Nguyễn Đình Chiểu, đoạn từ Vòng xoay Đồng Khởi đến ngã tư Phan Ngọc Tòng). Tiếp đến, các đoạn đường ở khu chợ và các đại lộ, trục đường chính trong nội ô thành phố Bến Tre đều có giá từ 17 triệu, 18 triệu đến 20 triệu đồng/m2. Giá đất ở ven trục đường thấp nhất tại thành phố Bến Tre là 400 ngàn đồng/m2 (khu vực Lộ Sơn Đông – Bình Phú, đoạn từ ngã 3 Lộ Sơn đông- Mỹ Thành đến ngã 3 Lộ Phường 6- Bình Phú). Đối với các huyện thì ngoài các tuyến đường mới bổ sung giá đất ở năm nay biến động không nhiều so với giá đất năm 2012.
Đối với đất nông nghiệp: giá các loại đất nông nghiệp năm 2013 trên địa bàn tỉnh Bến Tre không thay đổi so với năm 2012
Tải file Bảng giá đất Bến Tre 2013.


07/01/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy định mới về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính và bản đồ chính có hiệu lực ngày 05 tháng 7 năm 2014Quy định mới về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính và bản đồ chính có hiệu lực ngày 05 tháng 7 năm 2014
Ngày 19 tháng 5 năm 2014 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành 03 Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013 như sau:



     1. Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

     - Thông tư này gồm 5 Chương và 25 Điều quy định chi tiết một số nội dung như: Mẫu giấy chứng nhận và in ấn, phát hành quản lý phôi giấy chứng nhận; thể hiện nội dung trên giấy chứng nhận; xác nhận nội dung thay đổi vào giấy chứng nhận và sao, quét giấy chứng nhận.

     - Thông tư này thay thế các Thông tư: Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT; Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định bổ sung về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Thông tư số 16/2011/TT-BTNMT ngày 20 tháng 5 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến thủ tục hành chính về lĩnh vực đất đai.

     - Phôi Giấy chứng nhận đã phát hành theo quy định tại Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT được tiếp tục sử dụng để thể hiện nội dung theo quy định của Thông tư này.

     - Trường hợp đã nộp đủ hồ sơ đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận hợp lệ trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành và đã in, viết Giấy chứng nhận theo quy định tại Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT thì phải hoàn thành việc ký cấp Giấy chứng nhận đã in, viết xong trước ngày 15 tháng 7 năm 2014; trường hợp chưa in, viết Giấy chứng nhận thì phải thực hiện theo quy định tại Thông tư này

     2. Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về hồ sơ địa chính.

     - Thông tư này gồm 7 Chương và 35 Điều quy định chi tiết một số nội dung như: Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp giấy chứng nhận; nội dung hồ sơ địa chính; lập hồ sơ địa chính; cập nhật chỉnh lý hồ sơ địa chính; quản lý hồ sơ địa chính.

     - Thông tư này thay thế Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.

     3. Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về bản đồ địa chính.

     - Thông tư này gồm 4 Chương và 26 Điều quy định chi tiết một số nội dung như: Lập bản đồ địa chính và quản lý, sử dụng bản đồ địa chính.

     - Thông tư này thay thế Thông tư số 55/2013/TT-BTNMT ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về thành lập bản đồ địa chính.

     Thông tư và biểu mẫu: Download tại đây



18/07/2014 12:00 SAĐã ban hành
Cử Ủy viên Thường trực Hội đồng quốc gia về tài nguyên nướcCử Ủy viên Thường trực Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước
Ngày 20 tháng 11 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số: 1575/QĐ-TTg Cử ông Phạm Khôi Nguyên, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường làm Ủy viên Thường trực Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước thay ông Mai Ái Trực, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.



Hội đồng Quốc gia về tài nguyên nước đã được thành lập trên cơ sở Luật tài nguyên nước năm 1998, nhằm tư vấn cho Chính phủ trong những quyết định quan trọng về tài nguyên nước. Mặt khác, Hội đồng là tổ chức giúp Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ ngành liên quan chia sẻ những thông tin và phối hợp các hoạt động tài trợ quốc tế chặt chẽ hơn. Theo chức năng của mình và với các uỷ viên là đại diện các Bộ ngành liên quan, Hội đồng giúp quản lý tài nguyên nước một các tổng hợp và tư vấn cho Chính phủ về các vấn đề chính sách, chiến lược và thông qua quy hoạch lưu vực sông và các dự án lớn về phát triển nguồn nước, giải quyết tranh chấp về nước và các khía cạnh Quốc tế về phát triển và quản lý tài nguyên nước.

VĂN PHONG



22/11/2007 12:00 SAĐã ban hành
MITTING HƯỞNG ỨNG CHIẾN DỊCH LÀM CHO THẾ GIỚI SẠCH HƠN NĂM 2007MITTING HƯỞNG ỨNG CHIẾN DỊCH LÀM CHO THẾ GIỚI SẠCH HƠN NĂM 2007
Ngày 21 tháng 9 năm 2007, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại phát động và tổ chức lễ miting hưởng ứng Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2007 với chủ đề “Khí hậu của chúng ta, hành động của chúng ta, tương lai của chúng ta”.
Nội dung giới thiệu các vấn đề liên quan đến khí hậu - thời tiết như: sự thay đổi bất thường của thời tiết; sự phát thải quá mức các khí gây hiệu ứng nhà kính của con người; việc đốt một khối lượng lớn các nguyên liệu than đá, dầu mỏ, khí tự nhiên; việc chặt phá rừng bừa bãi và các hoạt động khác phát sinh khí thải làm tăng hiệu ứng nhà kính, tăng nhiệt độ Trái đất; tác hại của rác thải đối với môi trường, biện pháp làm giảm lượng rác thải, tái sử dụng hay tái chế rác thải. Từ đó, Ngành tài nguyên và Môi trường kêu gọi “Toàn dân hưởng ứng Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2007”; bằng các hình thức như tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, trang bị panô, băng rôn, áp phích, tranh cổ động tại các trụ sở cơ quan, đơn vị và các điểm đông dân cư, phát tờ rơi tại buổi mitting. Đồng thời các cơ quan ban ngành, các đoàn thể xã hội và học sinh ra quân diễu hành, làm sạch đường làng, ngõ xóm, khu phố, khu dân cư, nơi họp chợ, bến tàu xe, trụ sở làm việc; khơi thông cống rãnh, thu gom, xử lý rác thải và các hoạt động khác nhằm tạo cảnh quan môi trường vệ sinh, sạch đẹp.

Văn Ngoan

04/10/2007 12:00 SAĐã ban hành
Lấy ý kiến nhân dân đối với Dự thảo Nghị định về thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu về tài nguyên và môi trườngLấy ý kiến nhân dân đối với Dự thảo Nghị định về thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu về tài nguyên và môi trường
Dữ liệu về tài nguyên và môi trường là các bản chính, bản gốc gồm tài liệu, mẫu vật, số liệu đã được xử lý và lưu trữ theo quy định. Việc thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu về tài nguyên và môi trường phải bảo đảm phục vụ kịp thời công tác quản lý nhà nước và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm tính chính xác, trung thực, khách quan. Bộ Tài Nguyên và Môi trường vừa gửi tới Website Chính phủ Dự thảo Nghị định về thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu về tài nguyên và môi trường để lấy ý kiến nhân dân.
Theo Dự thảo Nghị định, bộ dữ liệu về tài nguyên và môi trường bao gồm 11 dữ liệu, đó là dữ liệu về đất đai; tài nguyên nước; địa chất và khoáng sản; môi trường; khí tượng thủy văn; đo đạc và bản đồ; tài nguyên môi trường biển và đảo; kết quả giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về tài nguyên và môi trường đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết; các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật về tài nguyên và môi trường; kết quả của các dự án, chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ về tài nguyên và môi trường; dữ liệu khác liên quan đến các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Danh mục dữ liệu về tài nguyên và môi trường phải được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên Internet, trang web của các cơ quan Trung ương và địa phương nhằm phục vụ cho cộng đồng và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố danh mục dữ liệu tài nguyên và môi trường ở Trung ương, UBND cấp tỉnh công bố danh mục dữ liệu tài nguyên và môi trường ở địa phương.

Dự thảo Nghị định nêu rõ, Nhà nước có chính sách phát triển hợp tác với các nước, các tổ chức nước ngoài, các tổ chức quốc tế trong việc điều tra, khảo sát, nghiên cứu, chia sẻ, cung cấp các dữ liệu về tài nguyên và môi trường; khuyến khích chia sẻ thông tin, phối hợp nghiên cứu, điều tra các dữ liệu, tạo thuận lợi cho việc quản lý, khai thác có hiệu quả các dữ liệu về tài nguyên và môi trường quốc tế.

(Theo Website Chính phủ)

06/11/2007 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả kiểm sóat ô nhiễm môi trường năm 2007Kết quả kiểm sóat ô nhiễm môi trường năm 2007
Thực hiện kế hoạch kiểm sóat ô nhiễm môi trường năm 2007, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức kiểm soát được 08 làng nghề, 40 cơ sở có phát sinh chất thải và 10  khu chợ trên địa bàn tỉnh Bến Tre.



Nội dung kiểm soát việc thực hiện các thủ tục của các làng nghề, cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ (sau đây gọi tắt là cơ sở), ban quản lý chợ,… theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường; hoạt động bảo vệ môi trường sau thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, bản cam kết bảo vệ môi trường; việc thực hiện các yêu cầu, kiến nghị trong các biên bản kiểm soát ô nhiễm môi trường đã lập; Kiểm tra việc thu gom, qui mô và hiệu quả của các công trình xử lý chất thải, khống chế ô nhiễm của các làng nghề, cơ sở và chợ.

Theo đó, các làng nghề không thực hiện định kỳ giám sát môi trường. Ý thức bảo vệ môi trường và nhận thức về môi trường, bảo vệ môi trường của các hộ sản xuất còn hạn chế. Có 03/08 làng nghề ít gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, riêng làng nghề truyền thống bánh phồng Sơn Đốc (huyện Giồng Trôm), làng nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Khánh Thạnh Tân và An Thạnh (huyện Mỏ Cày) gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí tại chỗ và ảnh hưởng đến môi trường khu vực.

Qua đợt kiểm soát phát hiện nhiều cơ sở có quy mô lớn, đa dạng loại hình, nhưng hệ thống xử lý chất thải chưa phù hợp với qui mô và loại hình hoạt động hoặc không xử lý nước thải, nước thải thải ra môi trường làm ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí vốn đã không được tốt, gây ô nhiễm môi trường.

Việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường của các cở sở: có 30/40 cơ sở có bản cam kết bảo vệ môi trường hoặc báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt, 10/40 cơ sở chưa lập bản cam kết bảo vệ môi trường hoặc báo cáo đánh giá tác động môi trường. Các cơ sở đều chưa thực hiện giám sát môi trường định kỳ. Về hiện trạng môi trường: có 07/40 cơ sở có hệ thống xử lý nước thải, 12/40 cơ sở chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải, 21/40 cơ sở có hệ thống xử lý nước thải, nhưng không phù hợp với quy mô và loại hình hoạt động, nước thải thải ra môi trường làm ô nhiễm môi trường.

Sở Tài nguyên và Môi trường yêu cầu các cơ sở xây dựng hệ thống thu gom, xử lý chất thải đúng kỹ thuật, vị trí và phù hợp với quy mô, loại hình hoạt động.

Qua đợt kiểm soát cho thấy, nhận thức chấp hành Quyết định số 2832/2006/QĐ-UBND ngày 24 tháng 8 năm 2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre “V/v ban hành Qui định quản lý rác thải trên địa bàn tỉnh Bến Tre”, của các điểm kinh doanh trong chợ chưa cao. Chính quyền địa phương chưa tuyên truyền, giáo dục, vận động các điểm kinh doanh trong chợ hiểu rõ và thực hiện đúng Quyết định nêu trên.

Các chợ đều chưa có hệ thống xử lý nước thải, nước thải thải trực tiếp ra sông, kênh, rạch gây ô nhiễm môi trường. Hầu hết các chợ do thiếu dụng cụ chứa rác và nhận thức kém của các điểm kinh doanh, khách hàng, nên khi tan chợ rác vương vãi khắp nơi, mất mỹ quan và gây ô nhiễm môi trường. Phương tiện vận chuyển rác thải còn thô sơ, chưa có xe chuyên dụng, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.

Các bãi xử lý rác thải đều không có tường bao quanh, gần nguồn nước, nhà dân và không có biện pháp xử lý nước rỉ rác, mùi hôi và ruồi nhặng, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và mất mỹ quan khu vực, đặc biệt, bãi rác chợ Định Trung, bãi rác chợ An Thuận và bãi rác chợ Bảo Thạnh.

Qua kết quả kiểm soát môi trường năm 2007 cho thấy, vẫn còn một số hộ sản xuất trong làng nghề và cở sở chưa thật sự quan tâm đến việc bảo vệ môi trường từ hoạt động sản xuất của mình. Sự phối hợp chưa đồng bộ và chặt chẽ trong hệ thống tổ chức quản lý môi trường tại địa phương. Công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường chưa đủ mạnh và thường xuyên. Qua đó, thấy rằng cần tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường trong cộng đồng và tăng cường hơn nữa hiệu quả quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về Tài nguyên và Môi trường ở các cấp.

Mai Hanh



28/01/2008 12:00 SAĐã ban hành
Quy phạm mới về đo đạc thành lập bản đồ địa chínhQuy phạm mới về đo đạc thành lập bản đồ địa chính
Trong thời gian vừa qua, Quy phạm thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000, 1:10000, 1:25000 của Tổng cục Địa chính...



Trong thời gian vừa qua, Quy phạm thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000, 1:10000, 1:25000 của Tổng cục Địa chính ban hành kèm theo Quyết định số 720 720/1999/QĐ-ĐC ngày 30 tháng 12 năm 1999 đến nay không còn phù hợp với nội dung Thông tư của Bộ Tài nguyên và Môi trường số 08/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 8 năm 2007 hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất và Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 8 năm 2007 hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính và không phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội hiện nay.
Để thống nhất công tác đo đạc, thành lập bản đồ địa chính phục vụ công tác quản lý đất đai được tốt hơn và để đáp ứng yêu cầu kỹ thuật cơ bản cho việc đo đạc, thành lập bản đồ địa chính ngày 10/11/2008 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 08/2008/QĐ-BTNMT Ban hành Quy phạm thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200, 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000 và 1:10000,
Quy phạm này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Quy phạm thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000, 1:10000 và 1:25000 ban hành kèm theo Quyết định số 720/1999/QĐ-ĐC ngày 30 tháng 12 năm 1999 của Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính.

Bạn tải Quyết định về máy tại đây.


HÙNG CƯỜNG



12/12/2008 12:00 SAĐã ban hành
Hướng dẫn giải quyết những vướng mắc trong công tác đo đạc địa chính trên địa bàn tỉnh Bến TreHướng dẫn giải quyết những vướng mắc trong công tác đo đạc địa chính trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Trong thời gian qua, công tác đo đạc địa chính trên địa bàn tỉnh còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc. Để giải quyết vấn đề này, ngày 07 tháng 9 năm 2010 Sở Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Công văn số 1182/STNMT-Đ ĐBĐ về việc giải quyết một số vấn đề vướng mắc trong công tác đo đạc địa chính.<br />Qua công văn này, Sở Tài nguyên và Môi trường đã hướng dẫn Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, Thành phố và các đơn vị có liên quan thực hiện một số vấn đề như sau:



1- Thực hiện ký xác nhận hồ sơ kỹ thuật thửa đất theo Công văn số 1284/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 19 tháng 4 năm 2010 của Tổng cục Quản lý Đất đai:
Thống nhất thực hiện hồ sơ kỹ thuật thửa đất trong đo đạc dịch vụ, đo đạc GPMB và lập bản đồ địa chính theo (phụ lục 11) Quy phạm thành lập Bản đồ Địa chính 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Tại mục Người kiểm tra của Cơ quan Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh: cán bộ Phòng Quản lý Đất đai ký kiểm tra, thẩm định .
- Tại mục Cơ quan Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh: Ban Giám đốc Sở ủy quyền cho lãnh đạo Phòng Quản lý Đất đai ký xác nhận.
2- Việc lập Phương án kỹ thuật - dự toán công trình đo đạc giải phóng mặt bằng và sử dụng hệ tọa độ trong đo vẽ bản đồ địa chính:
- Đổi tên “Phương án kỹ thuật - dự toán” thành “Thiết kế kỹ thuật -dự toán” công trình; việc lập thiết kế kỹ thuật phải đảm bảo công tác điều tra khảo sát thực địa khu đo, thiết kế lưới phục vụ đo vẽ bản đồ đảm bảo khả thi, phù hợp với khu đo và đúng quy định.
- Đối với các dự án có sử dụng vốn ngân sách nhà nước và thuộc khu đo có bản đồ địa chính chính quy, trong thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình phải giải trình làm rõ phương pháp thực hiện trích đo hay trích lục; nếu trích đo phải có biên bản điều tra khảo sát biến động thực địa, có xác nhận của địa phương, cơ quan tài nguyên môi trường cấp huyện và chủ đầu tư.
- Việc sử dụng hệ tọa độ trong đo vẽ bản đồ địa chính: thực hiện trên cơ sở hệ tọa độ mà bản đồ địa chính đã được thành lập ở khu vực đó; đối với khu đo chưa có bản đồ địa chính chính quy có thể được phép sử dụng tọa độ giả định (tự do), nhưng các mốc điểm tọa độ này phải lập ghi chú điểm, được chôn cố định, đảm bảo tồn tại lâu dài để đo nối hệ tọa độ quốc gia sau này.
3- Thực hiện công tác kiểm tra nghiệm thu hồ sơ, thành quả trích đo địa chính các công trình giải phóng mặt bằng: Chủ đầu tư có thể chọn và thuê (hợp đồng) với đơn vị có chức năng kiểm tra nghiệm thu sản phẩm đo đạc bản đồ địa chính, hồ sơ kiểm tra nghiệm thu phải lập đầy đủ, đúng quy định (theo Thông tư số 05/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 6 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
4- Việc bàn giao hồ sơ, thành quả các công trình giải phóng mặt bằng để các cơ quan có chức năng thực hiện chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính sau khi có quyết định thu hồi đất: Chủ đầu tư hợp đồng với Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện thực hiện chỉnh lý biến động, phòng tài nguyên môi trường kiểm tra, xác nhận kết quả chỉnh lý.
5- Quy định thống nhất sử dụng file ldat.def, file mdsd2003.txt trong phần mềm Famis và Seed file bản đồ VN2000 để lập, chỉnh lý và chuẩn hóa bản đồ địa chính áp dụng thực hiện chung trên toàn tỉnh.
Để có seedfile và mẫu hồ sơ kỹ thuật xin vui lòng gửi email yêu cầu vào địa chỉ mail: sotnmt_bt@yahoo.com. Chúng tôi sẽ cung cấp trong thời gian sớm nhất
Văn Đỉnh



14/09/2010 12:00 SAĐã ban hành
Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND ngày 25/05/2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định về hoạt động đo đạc và bản đồQuyết định số 10/2011/QĐ-UBND ngày 25/05/2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định về hoạt động đo đạc và bản đồ
Nhằm tằng cường công tác quản lý nhà nước và thực hiện tốt hơn những quy định của pháp luật về hoạt động đo đạc và bản đồ trên địa bàn tỉnh. Ngày 25/5/2011 Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND quy định về hoạt động đo đạc và bản đồ trên địa bàn tỉnh Bến Tre.<br />Thông qua quyết định này, Uỷ ban nhân tỉnh đã quy định, hướng dẫn chi tiết thêm một số nội dung liên quan đến lĩnh vực đo đạc và bản đồ cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân thực hiện thống nhất chung trên phạm vi toàn tỉnh.



Về sử dụng hệ quy chiếu và hệ toạ độ: Khi xây dựng hệ thống điểm đo đạc cơ sở, hệ thống bản đồ, hệ thống thông tin phải được thiết lập trên hệ quy chiếu và hệ tọa độ VN-2000, với kinh tuyến trục 105045’ múi chiếu 30; Những công trình đo đạc và bản đồ đã hoàn thành ở hệ quy chiếu và hệ tọa độ HN-72 hoặc hệ tọa độ, độ cao chuyên ngành khác phải chuyển kết quả cuối cùng sang hệ quy chiếu và hệ tọa độ VN-2000;
Về hoạt động đo đạc và bản đồ: các cơ quan, tổ chức và cá nhân tuỳ theo chức năng được quyền thực hiện các hoạt động về đo đạc và bản đồ như: Xây dựng hệ thống điểm đo đạc cơ sở chuyên dụng; Xây dựng hệ thống bản đồ; Cắm mốc giới; Xây dựng hệ thống thông tin; Xây dựng cơ sở dữ liệu đo đạc và bản đồ; In, phát hành các loại bản đồ tại địa phương,…
Về công tác quản lý trong đo đạc và bản đồ: Giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với các sở, ban ngành liên quan xây dựng kế hoạch hàng năm, kế hoạch dài hạn các dự án về đo đạc và bản đồ trên địa bàn tỉnh, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt và triển khai thực hiện, đảm bảo không chồng chéo với kế hoạch, dự án của cơ quan quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ và của các Bộ, ngành khác;
Về cấp phép trong đo đạc và bản đồ: Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm hướng dẫn và thẩm định trình Cục Đo đạc và Bản đồ cấp phép theo đúng quy định tại Thông tư số 32/2010/TT-BTNMT ngày 08 tháng 12 năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
Về kiểm tra, thẩm định và nghiệm thu chất lượng công trình sản phẩm đo đạc và bản đồ: các cơ quan, tổ chức và cá nhân khi thực hiện các công trình đo đạc đảm bảo đúng Thiết kế kỹ thuật - dự toán đã được phê duyệt, đúng tiêu chuẩn, quy định về kỹ thuật và kinh tế; chịu trách nhiệm về chất lượng, khối lượng, tiến độ công trình, sản phẩm do đơn vị mình thi công; trường hợp công trình, sản phẩm chưa đạt chất lượng thì phải làm bù hoặc làm lại bằng kinh phí của mình; Chủ đầu tư chịu trách nhiệm toàn bộ khối lượng, chất lượng và tiến độ công trình sản phẩm đo đạc và bản đồ; giám sát, kiểm tra, thẩm định chất lượng, khối lượng, tiến độ thi công và nghiệm thu sản phẩm công trình đo đạc và bản đồ bản đồ; báo cáo kết quả sản phẩm thực hiện gửi Sở Tài nguyên và Môi trường để phúc tra, thẩm định, chất lượng công trình, sản phẩm đó;
Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện phúc tra, thẩm định, chất lượng công trình, sản phẩm đo đạc và bản đồ địa chính, đo đạc và bản đồ địa hình, thành lập các bản đồ chuyên dụng trên địa bàn tỉnh; kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất đối với tất cả các công trình đo đạc và bản đồ trên phạm vi toàn tỉnh.
Về quản lý, lưu trữ các tư liệu đo đạc và bản đồ: Các cơ quan, tổ chức khi hoàn thành công trình sản phẩm đo đạc và bản đồ trên địa bàn tỉnh phải giao nộp 01 (một) bộ sản phẩm cho Sở Tài nguyên và Môi trường để lưu trữ theo quy định của nhà nước.
Quyết định này cũng khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ về đo đạc và bản đồ theo Quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ; nghiêm cấm các hoạt động đo đạc và bản đồ gây hại hoặc có nguy cơ gây hại cho quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.
Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày, kể từ ngày ký. Tải nội dung tại đây.


08/06/2011 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nh​iệm chính: Ông Nguyễn Văn Chinh - Chức vụ: Giám đốc Sở TN và MT | Giấy phép số: 139/GP - BC, ngày 16 tháng 4 năm 2007
Địa chỉ trụ sở: Số 01 - Trần Quốc Tuấn - Phường 2 - Thành phố Bến Tre - Tỉnh Bến Tre
Điện thoại: 075.3822210 - 075.211494 - Fax: 075.813176