Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Quy hoạch sử dụng đất
Quy định mới về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất; việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất có hiệu lực ngày 17 tháng 7 năm 2014 
 
Ngày 18/12/2013, tại UBND huyện Chợ Lách, Phó chủ tịch UBND huyện ông Lê Phước Toàn chủ trì lễ công bố quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015). Tham dự lễ công bố có đại diện các ban, ngành huyện, UBND các xã và thị trấn. 
 
Ngày 19/12/2013, tại UBND huyện Ba Tri, Phó chủ tịch UBND huyện ông Nguyễn Văn Nghị chủ trì Hội nghị công bố quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015). Tham dự hội nghị có đại diện lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường; Chi cục Quản lý đất đai; các ban, ngành huyện, UBND các xã và thị trấn. 
 
Ngày 07 tháng 02 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/NQ-CP về việc xét duyệt Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) của tỉnh Bến Tre. 
 
Ngày 25 tháng 4 năm 2013, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức Hội Nghị công bố Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011- 2015) của tỉnh Bến Tre, tham dự Hội nghị có lãnh đạo các Sở, ngành tỉnh, lãnh đạo Ủy ban nhân dân, phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố. 
 
Ngày 04 tháng 4 năm 2012, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị thẩm định quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) thành phố Bến Tre. Hội nghị do ông Nguyễn Văn Chinh, Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường – Phó chủ tịch Hội đồng Thẩm định chủ trì, cùng các thành viên trong Hội đồng. Tham dự Hội nghị có ông Nguyễn Trúc Lâm, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Bến Tre đại diện chủ đầu tư, ông Lê Đức Long, Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre đại diện cho đơn vị tư vấn lập quy hoạch sử dụng đất. 
 
Ngày 22 tháng 12 năm 2011, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị thẩm định quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu 2011 – 2015 huyện Bình Đại. Hội nghị do ông Nguyễn Hải Châu Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường – Chủ tịch Hội đồng Thẩm định chủ trì cùng các thành viên Hội đồng thẩm định, ngoài ra còn có sự tham gia của chủ đầu tư là Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại do ông Võ Văn Thanh – Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện đại diện. Ông Lê Đức Long – Giám đốc Văn Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre đại diện cho đơn vị tư vấn lập quy hoạch sử dụng đất. 
 
 
Từ ngày 13 đến 15 tháng 12 năm 2011, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre tổ chức Hội nghị thẩm định quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu 2011 – 2015 cho 03 huyện: Chợ Lách, Mỏ Cày Bắc và Ba Tri. Hội nghị do ông Nguyễn Văn Chinh Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường – Phó Chủ tịch Hội đồng Thẩm định chủ trì cùng các thành viên Hội đồng thẩm định theo Quyết định thành lập số 2675/QĐ-UBND ngày 11 tháng 11 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, ngoài ra còn có sự tham gia của chủ đầu tư là Ủy ban nhân dân các huyện. Báo cáo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011-2015) các huyện do Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre làm đơn vị tư vấn. 
 
Ngày 24 tháng 11 năm 2011, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre đã tiến hành tổ chức Hội nghị thẩm định Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu 2011 - 2015 huyện Mỏ Cày Nam do Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre làm đơn vị tư vấn. 
 
Ngày 27 tháng 10 năm 2011, Ủy ban nhân dân Thành phố Bến Tre đã tiến hành tổ chức Hội nghị góp ý dự thảo Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu 2011 – 2015 thành phố Bến Tre do Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre - Sở Tài Nguyên & Môi Trường tỉnh Bến Tre làm đơn vị tư vấn. 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức tập huấn pháp luật về tài nguyên và môi trườngSở Tài nguyên và Môi trường tổ chức tập huấn pháp luật về tài nguyên và môi trường
Ngày 20/6/2014, tại Hội trường Ủy ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội nghị tập huấn bồi dưỡng kiến thức pháp luật về tài nguyên nước và môi trường năm 2014 cho cán bộ, công chức làm công tác tài nguyên và môi trường cấp xã, cấp huyện thuộc bốn huyện Cù lao Minh gồm Chợ Lách, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam và Thạnh Phú.



     Nội dung tập huấn nhằm trang bị kiến thức pháp luật cần thiết cho đội ngũ cán bộ làm công tác tài nguyên và môi trường ở cơ sở như Luật khoáng sản, Luật tài nguyên nước, Luật xử phạt vi phạm hành chính, Nghị định 179/2013/NĐ-CP, 142/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước; cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước; và một số văn bản quản lý, chỉ thị của UBND tỉnh... Nội dung tập huấn do các báo cáo viên thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện.



Toàn cảnh Lớp tập huấn ngày 20/6/2014

     Dự kiến Lớp tập huấn thứ 2 sẽ diễn ra vào ngày 25/6/2014 dành cho cán bộ, công chức làm công tác tài nguyên và môi trường cấp xã và cấp huyện của 5 đơn vị còn lại gồm Thành phố Bến Tre, Châu Thành, Bình Đại, Giồng Trôm và Ba Tri.

     Với thành phần tham gia tập huấn trên 400 cán bộ, công chức làm công tác tài nguyên và môi trường ở cấp huyện và cấp xã trên địa bàn tỉnh, có thể nói đây là đợt tập huấn kiến thức pháp luật về tài nguyên và môi trường lớn nhất từ trước đến nay do Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức./



30/06/2014 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre: NĂM 2008 KIỆN TOÀN BỘ MÁY ĐỂ PHÁT TRIỂNSở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre: NĂM 2008 KIỆN TOÀN BỘ MÁY ĐỂ PHÁT TRIỂN
Với chức năng tham mưu giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường ở địa phương, có thể nói 2008 là năm mà ngành Tài nguyên và Môi trường Bến Tre gặt hái được nhiều thành công trong cả hai phương diện quản lý nhà nước và thực hiện các mục tiêu hoạt động của ngành.



Thực hiện chức năng quản lý nhà nước, trong năm 2008 hầu hết các nhiệm vụ công tác của ngành được thực hiện theo đúng kế hoạch, đảm bảo số lượng, chất lượng và thời gian thực hiện.
Công tác quản lý đất đai ngày càng chặt chẽ theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được phê duyệt; các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh do pháp luật đất đai quy định đều được Sở Tài nguyên và Môi trường quan tâm tập trung thực hiện tốt. Cụ thể trong năm 2008, đã hoàn thành công tác đo đạc lập bản đồ địa chính 21 xã của huyện Châu Thành, hoàn thành cơ bản công tác đăng ký lập hồ sơ địa chính 19 xã thuộc huyện Bình Đại; công tác cấp giấy CNQSDĐ đã hoàn thành về cơ bản (có trên 97% thửa đất hộ gia đình, các nhân và các tổ chức sử dụng được cấp giấy); đã điều tra nguồn quỹ đất công và tham mưu UBND tỉnh ban hành văn bản quản lý; các dịch vụ công phục vụ người sử dụng đất mặc dù còn nhiều việc phải tiếp tục chấn chỉnh, nhưng nhìn chung ngày càng hiệu quả và phục vụ người dân tốt hơn… Đặc biệt trong năm 2008, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu tốt cho UBND tỉnh về việc tiếp nhận và chuẩn bị kế hoạch thực hiện Dự án Hoàn thiện và hiện đại hoá hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (VLAP) giai đoạn 2008-2013. Ngày 28/10 vừa qua, Dự án chính thức được khởi động thực hiện, đã hiện thực hoá một cơ hội lớn cho công tác quản lý đất đai ở Bến Tre ngày càng hiện đại và hoàn thiện.
Quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, một nhiệm vụ cấp bách trong giai đoạn hội nhập phát triển kinh tế. Bến Tre cũng như các địa phương trong cả nước sẽ gánh chịu hệ quả tất yếu giữa phát triển kinh tế và ô nhiễm môi trường. Do đó, nhiệm vụ này đã được tập trung thực hiện xuyên suốt trong năm qua. Quy hoạch môi trường tỉnh Bến Tre giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020 với nhiều chương trình giải quyết ô nhiễm môi trường trong tương lai đã được xây dựng xong đang được triển khai thực hiện; công tác quan trắc, thẩm định và kiểm soát ô nhiễm môi trường được quan tâm đầu tư thực hiện thường xuyên; các mô hình xử lý ô nhiễm được tập trung nghiên cứu nhằm ứng dụng giải quyết ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi gia súc, sản xuất than thiêu kết, chỉ xơ dừa… và đã đạt được một số kết quả bước đầu; công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về tài nguyên và môi trường trên sóng Đài Phát thanh Truyền hình Bến Tre, Báo Đồng Khởi và Trang tin điện tử Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre (tại địa chỉ http://www.sotnmt-bentre.gov.vn) ngày càng đa dạng, phong phú tạo được sự quan tâm trong dư luận, qua đó nhận thức của người dân được nâng lên, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước tài nguyên và môi trường; Hợp phần kiểm soát ô nhiễm môi trường khu đông dân cư nghèo tỉnh Bến Tre (PCDA) đã bước sang năm thứ hai và đang triển khai thực hiện các dự án trình diễn : Dự án xây dựng mô hình xử lý chất thải vật nuôi tại xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày và xã Phú Lễ, huyện Ba Tri và dự án cải thiện môi trường kênh Chín Tế, Phường Phú Khương, Thị xã Bến Tre... tất cả đã góp phần cải thiện môi trường sống của người dân, cũng như quản lý, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả hai loại tài nguyên quý giá của tỉnh là tài nguyên nước và cát lòng sông.
Với vai trò là cơ quan tham mưu giải quyết khiếu kiện về đất đai, các phản ảnh về bảo vệ tài nguyên, môi trường, năm qua ngành Tài nguyên và Môi trường đã bám sát kế hoạch giải quyết khiếu kiện của tỉnh, tập trung phân công lực lượng tham gia các Đoàn công tác liên ngành của tỉnh. Kết quả đã giải quyết xong cơ bản dạng khiếu kiện đất TĐSX theo Quyết định 815/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và giải quyết thấu tình, đạt lý nhiều vụ việc tranh chấp, khiếu kiện khác, góp phần ổn định tình hình trật tự ở địa phương.
Bên cạnh công tác chuyên môn, việc kiện toàn tổ chức bộ máy ngành Tài nguyên và Môi trường trong năm 2008 cũng đã đạt được những thành quả quan trọng góp phần nâng cao năng lực quản lý của ngành. Trong năm 2008 đã thành lập Chi cục Bảo vệ môi trường Bến Tre chính thức đi vào hoạt động từ đầu tháng 7-2008; thành lập Trung tâm Quan trắc môi trường vào tháng 9-2008; thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre trên cơ sở hợp nhất 03 đơn vị sự nghiệp gồm Trung tâm Kỹ thuật TNMT, Trung tâm Thông tin TNMT và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh, đơn vị này đã đi vào hoạt động ổn định từ tháng 8-2008 và bắt đầu phát huy nguồn lực tổng hợp từ 03 đơn vị được hợp nhất. Hiện tại, Sở Tài nguyên và Môi trường cũng đang trình UBND tỉnh xem xét phê duyệt Đề án kiện toàn tổ chức bộ máy theo Thông tư Liên tịch số 03/2008/TTLT-BTNMT-BNV ngày 15/7/2008 của Bô Tài nguyên và Môi trường- Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về tài nguyên và môi trường thuộc Ủy ban nhân dân các cấp, trong đó bổ sung thêm chức năng quản lý tổng hợp về biển, đảo và chức năng định giá đất hàng năm.
Năm 2008 là năm thứ 3 thực hiện Kế hoạch 5 năm 2006-2010 của tỉnh. Nỗ lực của ngành Tài nguyên và Môi trường có ý nghĩa quan trọng góp phần vào sự phát triển bền vững của tỉnh nhà và vì mục tiêu phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn. Hy vọng kế thừa những thành tựu trong thời gian qua, ngành Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục gặt hái những thành tựu mới trong năm 2009./.
Vĩnh Thịnh




16/12/2008 12:00 SAĐã ban hành
Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục Quản lý Đất đai Phùng Văn Nghệ trả lời phỏng vấn Báo TN&MT: Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đất đaiPhó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục Quản lý Đất đai Phùng Văn Nghệ trả lời phỏng vấn Báo TN&MT: Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đất đai
Chính phủ vừa trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội và đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho phép rút Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ra khỏi Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2008 để Chính phủ có điều kiện chuẩn bị kỹ hơn. Trao đổi với Báo TN&MT xung quanh vấn đề này, Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục Quản lý Đất đai Phùng Văn Nghệ (ảnh) cho biết:



Chính phủ đã đánh giá quá trình soạn thảo Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai là rất tích cực. Cơ quan chủ trì là Bộ TN&MT đã tổ chức rà soát các văn bản pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan một cách chu đáo. Nhiều ý kiến đóng góp vào dự án luật đã được ghi nhận qua việc tổ chức gần 30 cuộc hội thảo lấy ý kiến đóng góp của đông đảo các cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, đại diện UBND cấp tỉnh, cấp huyện, cũng như lấy ý kiến các tổ chức, doanh nghiệp, các nhà khoa học và các chuyên gia nước ngoài thuộc chuyên ngành có liên quan. Dự thảo Luật cũng đã được báo cáo thẩm định sơ bộ tại Ủy ban Kinh tế Quốc hội, được Chính phủ, Thường trực Chính phủ thảo luận tại 2 phiên họp trong tháng 8 vừa qua.
Thưa ông, vậy tại sao Dự án Luật này lại chưa trình ra Quốc hội tại kỳ họp tháng 10 tới đây như dự kiến?
Ông Phùng Văn Nghệ: Dự án Luật Đất đai sửa đổi sở dĩ tạm dừng vì qua hai phiên thảo luận, Chính phủ cho ý kiến đất đai là vấn đề quan trọng chi phối đến mọi hoạt động của các tổ chức, cần cân nhắc kỹ những nội dung sửa đổi, bổ sung. Để đánh giá kỹ những vấn đề hạn chế, cần có thời gian tổ chức nghiên cứu kỹ hơn để sửa đổi, bổ sung toàn diện hơn, nhằm ổn định đời sống, tình hình kinh tế - xã hội, đồng thời thu hút đầu tư trong và ngoài nước, tạo điều kiện phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế. Tóm lại là cần có thời gian điều tra, khảo sát để tổng kết, đánh giá đầy đủ, toàn diện về mức độ tác động và sự ảnh hưởng trong thực tiễn. Có vấn đề cần phải nghiên cứu, học tập kinh nghiệm nước ngoài để có điều kiện chuẩn bị kỹ hơn. Chính phủ chỉ đạo trước mắt tập trung sửa đổi, bổ sung một số Nghị định thi hành Luật Đất đai để tháo gỡ các vướng mắc mà thực tế cuộc sống đang đặt ra.
Xin ông cho biết tại sao việc sửa đổi Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai lại là vấn đề cần thiết và cấp bách?
Sau hơn 4 năm thi hành Luật Đất đai, các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đã bộc lộ một số bất cập gây ách tắc khó khăn trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, trong thu hút đầu tư và thực hiện các quyền cũng như nghĩa vụ của người sử dụng đất, trong việc định giá đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư... Mặt khác, một số vấn đề trong các Nghị định hướng dẫn qua thực tiễn thi hành đã bộc lộ tính chung chung, thiếu cụ thể. Cần được quy định rõ ràng đầy đủ tạo thuận lợi thu hút đầu tư, bảo đảm quyền lợi của người sử dụng đất, nhất là người bị thu hồi đất, giải quyết hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và nhà đầu tư.
Cụ thể, những Nghị định sẽ được sửa đổi, bổ sung tới đây là...?
Đó là sửa đổi, bổ sung Nghị định số 181/2004/NĐ-CP với nội dung về Tổ chức Phát triển quỹ đất; nội dung quy hoạch sử dụng đất; căn cứ giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất... Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 197/2004/NĐ-CP về bồi thường hỗ trợ tái định cư. Nghị định 142/2005/NĐ-CP về giá thuê đất để bảo đảm bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Ngoài ra, còn sửa đổi, bổ sung các Nghị định số 17/2006/NĐ-CP, Nghị định 84/2007/NĐ-CP, Nghị định 123/2007/NĐ-CP.
Trở lại với hai nội dung chính mà Dự án Luật Đất đai sửa đổi đã và đang tập trung, đó là quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất và tài chính đất, đó quả thực là những nội dung hết sức cấp thiết thưa ông?
Đúng vậy. Như tôi vừa nói những nội dung trong Dự thảo mà Bộ TN&MT đã trình Chính phủ là những nội dung cấp thiết nhằm điều chỉnh lại các chế độ quản lý cũng như quan hệ sử dụng đất đã tạo được sự đồng tình lớn qua hàng chục cuộc hội thảo. Mọi người đều hiểu rằng việc quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập, quy hoạch chậm triển khai, chất lượng quy hoạch thấp, công tác dự báo chưa chính xác, quy trình lập quy hoạch chưa hợp lý. Ngoài ra, việc quản lý bảo vệ diện tích đất trồng lúa, đất rừng đều là những vấn đề cần được xem xét, đánh giá đầy đủ hơn, nhằm đảm bảo an ninh lương thực và bảo vệ môi trường. Thứ nữa, các vấn đề liên quan tới tài chính đất đai như bồi thường, giải phóng mặt bằng, định giá đất... đều là vấn đề được xã hội hết sức quan tâm. Cần quy định rõ cơ chế tài chính mới khuyến khích được việc xã hội hóa một số lĩnh vực như bồi thường giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch...

Xin cảm ơn ông.

(Theo Monre)



02/10/2008 12:00 SAĐã ban hành
Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Mùa mặn 2016-2017)Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Mùa mặn 2016-2017)
Bản tin dự báo độ mặn - Bản tin mặn cuối cùng - Mùa mặn 2016-2017 (Tuần 24/2017)

I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 06 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 13/06/2017 (TUẦN 23/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế giảm nhẹ ít biến đổi từ ngày 06 đến 13.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 06-11  ở mức xấp xỉ thấp hơn so với tuần trước và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 18.6 ‰  ngày 06.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 3.2 ‰  ngày 06.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 0.2 ‰  ngày 06-11.

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): 12.3 ‰  ngày 06.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): 0.4 ‰  ngày 06, 10, 11.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 0.1 ‰ ngày 06.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): 0.1 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): 9.3 ‰  ngày 13.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mõ Cày Nam): 0.2 ‰  ngày 06.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Lộc Thuận - Phú Vang (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 20-22km).

- Sông Hàm Luông: xã An Hiệp (huyện Ba Tri) – Mỹ An (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 16-18km).

- Sông Cổ Chiên: xã Bình Thạnh - Hòa Lợi (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 16-18km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

- Sông Hàm Luông: xã Hưng Lễ (huyện Giồng Trôm) – Phú Khánh (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 24-26km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thới Thạnh (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 26-28km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TRONG THỜI GIAN TỚI:

Xâm nhập mặn trên các sông chính trong tỉnh có xu thế lùi dần về cửa sông. Trong nửa cuối tháng 06 còn xuất hiện 01 đợt xâm nhập mặn với độ mặn 4o/oo xâm nhập sâu nhất cách cửa sông khoảng 30km, độ mặn 1o/oo xâm nhập sâu nhất khoảng 40km rồi rút nhanh. Sau đó mặn xâm nhập giảm nhanh cho đến cuối tháng 07 năm 2017, lúc này độ mặn 4o/oo chỉ tồn tại ở vùng cửa sông.

 Đây là bản tin dự báo xâm nhập mặn cuối cùng trong mùa mặn năm nay.

 (Bản tin dự báo xâm nhập mặn tiếp theo sẽ được phát trong tháng 12 năm nay)

TUAN24.png 

Ban tin man 20-6-2017 (Tuan24).png

20/06/2017 3:00 CHĐã ban hành
Góp ý dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnhGóp ý dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh
Góp ý dự thảo Quyết định ban hành quy định hạn mức đất và chế độ quản lý việc xây dựng phần mộ, tượng đài, bia tưởng niệm trong nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn tỉnh Bến Tre của Ủy ban nhân dân tỉnh
19/01/2018 2:00 CHĐã ban hành
Cầu Rạch Miễu sẽ thông xe kỹ thuật cuối năm 2007Cầu Rạch Miễu sẽ thông xe kỹ thuật cuối năm 2007
Đó là khẳng định của ông Nguyễn Đình Tuy, Giám đốc Công ty TNHH B.O.T Cầu Rạch Miễu, trong buổi làm việc với báo giới vào sáng ngày 28-2-2007. Ông Nguyễn Đình Tuy cho biết các thủ tục pháp lý và thiết kế Dự án đã xong vào tháng 12-2006.
Ông Nguyễn Đình Tuy cho biết các thủ tục pháp lý và thiết kế Dự án đã xong vào tháng 12-2006. Vốn của Dự án đã được bố trí đủ từ vốn ngân sách nhà nước và vốn BOT. Các đơn vị thi công cũng đã được điều chỉnh lại cho phù hợp với năng lực.

Các hạng mục hiện đang được thi công trên đường găng bao gồm đẩy nhanh thi công 2 trụ tháp T18 và T19, cụ thể đã thi công khối S19, chuẩn bị thi công S20 và KO. Đây là hạng mục quan trọng quyết định tiến độ toàn dự án. Các hạng mục kế tiếp bao gồm thi công đúc hẫng các đốt tiếp theo tại trụ T41 và T42, đồng thời thi công đợt 3 khối KO T40 và KO T43, và lao dầm các nhịp trên cồn Thới Sơn và thi công phần mặt cầu. Trong thi công thân trụ tháp, phần đúc hẫng dầm dây văng (do các chuyên gia của hãng SVL Thụy Sĩ giám sát) dự kiến sẽ hoàn tất vào ngày 30-4-2007; đến ngày 30-6-2007 sẽ hoàn tất xong cầu số 2 và đường dẫn; và ngày 30-12-2007 sẽ thông xe kỹ thuật cầu Rạch Miễu nối liền tỉnh Bến Tre với Tiền Giang.

(theo Website Bến Tre)

19/10/2007 12:00 SAĐã ban hành
CÔNG BỐ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 VÀ KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM (2011-2015) CỦA TỈNH BẾN TRECÔNG BỐ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 VÀ KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM (2011-2015) CỦA TỈNH BẾN TRE
Ngày 25 tháng 4 năm 2013, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức Hội Nghị công bố Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011- 2015) của tỉnh Bến Tre, tham dự Hội nghị có lãnh đạo các Sở, ngành tỉnh, lãnh đạo Ủy ban nhân dân, phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố.



Tại Hội nghị ông Trần Quang Minh- Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, thông qua Nghị quyết số 24/NQ-CP ngày 07 tháng 02 năm 2013 của Chính phủ về việc quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015).

Theo Quy hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ xét duyệt thì diện tích tự nhiên đến năm 2020 của tỉnh Bến Tre là 236.062 ha được phân bổ cho các mục đích sử dụng đất như: diện tích đất nông nghiệp đến năm 2020 là 173.653 ha giảm 5.933 ha so với hiện trạng, trong đó: diện tích đất lúa nước là 33.000 ha, giảm 5.123 ha (đất chuyên trồng lúa nước có 31.000 ha); diện tích đất phi nông nghiệp đến năm 2020 là 62.409 ha tăng 6.391ha so với hiện trạng; diện tích đất chưa sử dụng đến năm 2020 là không còn diện tích (đưa vào sử dụng trong giai đoạn 2011-2020 là 408 ha); diện tích đất đô thị đến năm 2020 là 18.571 ha; diện tích đất khu bảo tồn thiên nhiên đến năm là 2.733 ha; diện tích đất khu du lịch là 4.174 ha.

Bên cạnh đó để triển khai thực hiện tốt quy hoạch sử dụng đất Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Bến Tre rà soát quy hoạch của các ngành, lĩnh vực có sử dụng đất cho thống nhất với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh đã được Chính phủ xét duyệt; tập trung chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương để cụ thể hoá quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh sau khi được xét duyệt, xác định và công bố công khai diện tích, mốc giới đất lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng cần bảo vệ nghiêm ngặt; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất theo quy hoạch nhất là khu vực chuyển mục đích sử dụng; ngăn chặn, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các trường hợp đã được giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng hoặc sử dụng sai mục đích…

Kết thức Hội nghị, ông Trần Quang Minh- Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị các sở, ban, ngành trên cơ sở nội dung Quy hoạch sử dụng đất của tỉnh được xét duyệt, tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung, xây dựng mới quy hoạch ngành, các chỉ tiêu sử dụng đất của ngành mình cho phù hợp, đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ với quy hoạch sử dụng đất của tỉnh, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh bố trí vốn thực hiện các công trình đã đăng ký trong kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Đối với UBND các huyện, thành phố phải tiến hành rà soát lại các chỉ tiêu mà huyện đã phân bổ cho các xã trong quy hoạch các xã nông thôn mới, tiến hành điều chỉnh các chỉ tiêu sử dụng đất của các xã chưa phù hợp, trong quản lý sử dụng đất phải tuân thủ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhất là vấn đề giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất…



07/05/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy chế phối hợp giữa Văn phòng Đăng ký đất đai và các cơ quan, đơn vị có liên quan trong thực hiện thủ tục hành chính về đất đai trên địa bàn tỉnh Bến TreQuy chế phối hợp giữa Văn phòng Đăng ký đất đai và các cơ quan, đơn vị có liên quan trong thực hiện thủ tục hành chính về đất đai trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Ngày 04 tháng 10 năm 2016, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 52/2016/QĐ-UBND ban hành quy chế phối hợp giữa Văn phòng Đăng ký đất đai và các cơ quan, đơn vị có liên quan trong thực hiện một số thủ tục hành chính về đất đai trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Ngày 04 tháng 10 năm 2016, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 52/2016/QĐ-UBND ban hành quy chế phối hợp giữa Văn phòng Đăng ký đất đai và các cơ quan, đơn vị có liên quan trong thực hiện một số thủ tục hành chính về đất đai trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

      Quy chế quy định cụ thể trách nhiệm tiếp nhận, trả kết quả, thời gian thực hiện cụ thể cho từng nội dung công việc của từng đơn vị, cũng như sự phối hợp giữa Văn phòng Đăng ký đất đai (bao gồm các Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai) với các cơ quan như: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Quản lý các khu công nghiệp, Ban Tôn giáo tỉnh Bến Tre, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Kinh tế và Hạ tầng, Phòng Quản lý đô thị, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, Phòng Tài nguyên và Môi trường và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

      Quyết định quy định 06 (sáu) thủ tục phối hợp bao gồm:

       1. Thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất lần đầu.

       2. Thủ tục đăng ký bổ sung tài sản gắn liền với đất vào Giấy chứng nhận đã cấp.

      3. Thủ tục cấp lại giấy chứng nhận hoặc cấp lại Trang bổ sung của Giấy chứng nhận do bị mất.

      4. Thủ tục đăng ký biến động quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trong các trường hợp chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của vợ hoặc chồng thành của chung vợ và chồng.

     5. Thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận.

     6. Thủ tục đính chính Giấy chứng nhận đã cấp.

N.K.Phương

QÐ ban hanh quy che phoi hop giua VPDKĐĐ va cac co quan don vi.pdf


25/10/2016 3:00 CHĐã ban hành
BẾN TRE HOÀN THÀNH CÔNG TÁC ĐO ĐẠC XÁC ĐỊNH RANH GIỚI, MỐC GIỚI SỬ DỤNG ĐẤT RỪNG PHÒNG HỘ VÀ RỪNG ĐẶC DỤNGBẾN TRE HOÀN THÀNH CÔNG TÁC ĐO ĐẠC XÁC ĐỊNH RANH GIỚI, MỐC GIỚI SỬ DỤNG ĐẤT RỪNG PHÒNG HỘ VÀ RỪNG ĐẶC DỤNG
Thực hiện Công văn số 4043/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 01 tháng 11 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn xác định cắm mốc, đo đạc ranh giới, mốc ranh giới đất nông, lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre giao Sở Tài nguyên và Môi trường làm chủ đầu tư thực hiện dự án; Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre là đơn vị thi công. Trong quá trình thực hiện,Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre đã phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bến Tre, Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng Bến Tre, Chi cục kiểm lâm, Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện: Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú; Ủy ban nhân dân các xã để tiến hành công tác đo đạc.



Theo kế hoạch, công trình được triển khai thực hiện từ tháng 9/2012. Tuy nhiên, do đất lâm trường ở tỉnh Bến Tre chủ yếu nằm trãi dọc theo bờ biển, chủ yếu là rừng ngập mặn với địa hình là vùng đất trũng, đất sình lầy, rừng cây rậm rạp, sông rạch chằng chịt không thuận lợi cho thực hiện công tác đo đạc, cắm mốc, xác định ranh giới đất lâm trường. Bên cạnh đó, do thời điểm thực hiện lại vào cuối mùa mưa và cũng là thời điểm những tháng có nước thủy triều lớn nhất trong năm; thời tiết mưa, sóng chướng thất thường làm ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ thi công công trình.

Công trình đã hoàn thành và bàn giao sản phẩm để đưa vào quản lý, sử dụng. Loại rừng trên địa bàn tỉnh chủ yếu là rừng phòng hộ bố trí ở xã Bảo Thạnh, Bảo Thuận, Tân Thuỷ, An Thuỷ huyện Ba Tri; xã Bình Thắng, Thừa Đức, Thới thuận, Thạnh Phước huyện Bình Đại và rừng đặc dụng ở xã An Điền, Thạnh Hải, Thạnh Phong huyện Thạnh Phú. Tổng diện tích đất lâm trường của tỉnh là 6.923,42 ha. Trong đó: huyện Bình Đại là 2.845,71 ha, huyện Ba Tri là 1.454,93 ha và huyện Thạnh Phú là 2.622,78 ha. Diện tích được bố trí thành 9 khu đất, trong đó 5 khu đất có diện tích nhỏ hơn 500,00 ha và 4 khu đất có diện tích lớn hơn 1.000,00 ha. Tổng số mốc ranh giới đất lâm trường được chôn là 335 mốc. Tuy nhiên, trong tổng số diện tích đất rừng có 115,78 ha chưa xác định rõ chủ sử dụng do còn tranh chấp.

Sở Tài nguyên và Môi trường đang phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ban quản lý rừng và địa phương để triển khai thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.



30/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Nâng cao hiệu quả quản lý đất đai ở các địa phươngNâng cao hiệu quả quản lý đất đai ở các địa phương
Thông tư liên tịch số 38 (ngày 31/12/2004) giữa Bộ Tài nguyên & Môi trường và Bộ Nội vụ về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, và Tổ chức phát triển quỹ đất sẽ được sửa đổi theo hướng tách thành 2 Thông tư liên tịch. Đây là việc làm cần thiết nhằm phục vụ và nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất đai ở địa phương, rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục trong quá trình đăng ký, giao dịch và tạo được nguồn quỹ đất.



Đến thời điểm này, dự thảo Thông tư liên tịch giữa Bộ Tài nguyên & Môi trường, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và cơ chế tài chính của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đang trong quá trình thẩm định, để có thể ban hành thời gian tới. Sự thay đổi cơ bản ở dự thảo là thống nhất thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ở cấp huyện và quy định rõ cơ chế tài chính của Văn phòng.
Sau hơn 4 năm thực hiện Thông tư liên tịch, đến nay các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thành lập được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, trong đó có 487 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện; 35 tỉnh có 100% số huyện, thị xã, thành phố thành lập Văn phòng. Song cũng còn 6 tỉnh Lào Cai, Bắc Kạn, Điện Biên, Phú Thọ, Bắc Ninh và Hòa Bình chưa có huyện nào thành lập được. Bên cạnh đó 52 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thành lập Tổ chức phát triển quỹ đất. Số địa phương chưa thành lập được là Lào Cai, Tuyên Quang, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nghệ An, Quảng Trị, Gia Lai, Bến tre, Sóc Trăng và Bình Dương.
Theo đánh giá của Bộ Tài nguyên & Môi trường, nguyên nhân của những tồn tại nêu trên là do một số nội dung trong việc thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất chưa được quy định đầy đủ, khiến cho các địa phương khó thực hiện. Việc quy định thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện tùy thuộc vào điều kiện từng địa phương cũng là tác nhân gây ách tắc, nhất là cơ chế hoạt động và tài chính không được quy định trong Thông tư liên tịch.

Theo www.monre.gov.vn



12/02/2009 12:00 SAĐã ban hành
Nhiều giải pháp để tạo quỹ đất "sạch"Nhiều giải pháp để tạo quỹ đất "sạch"
Tại Hội thảo bàn việc tạo quỹ đất "sạch" cho các nhà đầu tư do Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Hiệp hội Bất động sản TP.HCM, Tổng Công ty Đền bù giải tỏa vừa được tổ chức tại TP.HCM, đã có nhiều ý kiến đề xuất giải pháp liên quan đến đền bù giải tỏa, cơ chế tài chính...nhằm điều tiết thị trường nhà đất lâu nay vốn rất thất thường.



Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Thế Ngọc cho biết, sắp tới sẽ điều chỉnh hệ thống chính sách về giá đất, ngoài bồi thường còn có thêm phần hỗ trợ và cũng chính là phần của Nhà nước giúp đỡ người dân và điều tiết lại sự chênh lệch địa tô bất hợp lý.
Thứ trưởng Trần Thế Ngọc đề nghị các địa phương phải chủ động lên kế hoạch lâu dài để tạo quỹ nhà đất tái định cư, để khi cần là đáp ứng kịp thời, hỗ trợ nhanh việc đền bù giải tỏa, đồng thời phục vụ cải tạo chỉnh trang đô thị. Để tạo được quỹ nhà đất này, các địa phương cần nghiên cứu áp dụng hình thức tổ chức đấu thầu các dự án. Bộ TN&MT sẽ công bố danh mục, địa chỉ quỹ đất dành cho 4 mục đích như Đề án đã nêu ra, trong đó sẽ nêu cụ thể diện tích, hệ số sử dụng đất, kể cả giá bồi thường ở từng địa chỉ. Theo Thứ trưởng Trần Thế Ngọc, ngoài việc cải cách thủ tục hành chính như giảm từ 11 bước khi giao đất, cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất xuống chỉ còn 3 bước như hiện nay, Nhà nước cũng cần có sự hỗ trợ về thuế, về nguồn vốn đối với các nhà đầu tư tham gia chương trình nhà ở xã hội.
Trước đó, ông Lê Thanh Khuyến, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai, đã trình bày Đề án "Tạo quỹ đất của Nhà nước phục vụ các mục tiêu công ích, chính sách xã hội, điều tiết thị trường đất đai và hỗ trợ tái định cư ". Theo đó, nêu bật 3 nhóm giải pháp chính để thực hiện Đề án này: Hoàn thiện hệ thống pháp luật; sử dụng công cụ giá đất và vấn đề bồi thường giải tỏa ; các chương trình hành động cụ thể…Nhiều doanh nghiệp đã đóng góp ý kiến bổ ích, thiết thực cho Đề án trên của Bộ TN&MT.
Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Nhà nước cần có những chính sách hữu hiệu để sớm chấn chỉnh sự chênh lệch địa tô quá lớn và bất hợp lý như thời gian qua, gây nhiều bức xúc trong xã hội. Bởi theo ông Châu, phần giá trị gia tăng khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã rơi quá nhiều vào túi nhà đầu tư hoặc tầng lớp trung gian, trong khi đó Nhà nước và người dân lại không được hưởng lợi, tạo ra sự mất cân bằng. Vì vậy, cần phải có sự điều tiết lại để giá trị gia tăng của đất được chuyển vào ngân sách, để Nhà nước có thêm nguồn tài chính hỗ trợ cho người dân có đất bị thu hồi và đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi xã hội khác.
Cần có những cơ chế chính sách để người dân có đất bị thu hồi không bị thiệt thòi đã được ông Lê Viết Hưng, Giám đốc Sở TN&MT tỉnh Đồng Nai nêu lên. Theo ông Hưng, điều quan trọng nhất là phải xây dựng được một cơ chế định giá đất phù hợp, thống nhất trên toàn quốc và được kiểm soát chặt chẽ. Làm được như vậy thì dù là dự án của Nhà nước hay của tư nhân thì việc đền bù giải tỏa sẽ được đẩy nhanh hơn, hạn chế tình trạng quy hoạch "treo", dự án "treo" và hạn chế được khiếu kiện kéo dài, phức tạp như thời gian qua. Ông Trần Kim Phát, Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất TP.HCM cho rằng, trong chính sách đền bù, giải tỏa không nên dùng từ hỗ trợ, bởi nếu gọi là hỗ trợ thì chưa đánh giá đúng mức quyền lợi và sự bình đẳng về quyền sử dụng đất của người dân.
Từ thực tế triển khai đền bù giải tỏa rất thành công, chỉ trong một thời gian ngắn một số dự án ở TP. Hồ Chí Minh mà trước đây đã nổi tiếng bởi sự chậm trễ kéo dài nhiều năm trời như: Chung cư 192 Nam Kỳ Khởi Nghĩa (quận 3), 289 Trần Hưng Đạo (quận 1), khu nhà ở - tái định cư Phú Mỹ (quận 7)…Ông Phạm Ngọc Lâm, Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty cổ phần Đền bù giải tỏa cho rằng: Chỉ có sử dụng phương án thẩm định giá và lấy kết quả định giá để áp giá đền bù là có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa chủ đầu tư và người dân có nhà đất bị thu hồi. Theo ông Lâm, nên quy định trong vòng 3 tháng, chủ đầu tư thuê công ty định giá để thẩm định giá nhà đất và tiến hành thỏa thuận với người dân bằng chứng thư định giá. Tất nhiên các công ty định giá nhà đất sẽ phải chịu trách nhiệm về kết quả thẩm định của mình. Chỉ có một tổ chức trung gian đứng ra làm việc này một cách khách quan mới dung hòa được lợi ích của cả người dân và chủ đầu tư.

Theo www.monre.gov.vn



27/02/2009 12:00 SAĐã ban hành
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt NamĐẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam
Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định 373/QĐ-TTg, phê duyệt  Đề án "Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam", từ nay đến năm 2015.



Đề án gồm 5 nội dung lớn: Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, hải đảo; Nâng cao nhận thức cộng đồng về khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng ven biển, hải đảo; Tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển; Xây dựng, quảng bá thương hiệu Biển Việt Nam; Nâng cao nhận thức về vị thế quốc gia biển và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, hải đảo.
Theo đó, mục tiêu đặt ra là tập huấn và trang bị tài liệu phổ biến những kiến thức pháp lý cơ bản về biển, cập nhật những văn bản pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên và môi trường biển, hải đảo cho 100% CBCC ngành tài nguyên và môi trường; trên 80% CBCC các cơ quan chuyên môn quản lý Nhà nước các lĩnh vực khai thác biển; trên 50% CBCC xã, phường, thị trấn ven biển; 100% cán bộ, chiến sĩ các đơn vị Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng, Công an nhân dân các vùng biển, đảo và hầu hết ngư dân, cũng như một bộ phận CBVC và người lao động các đơn vị sự nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp hoạt động trên biển. 100% số xã, phường, thị trấn vùng ven biển, hải đảo được tuyên truyền để nâng cao nhận thức về những vấn đề nan giải, bất cập, mâu thuẫn chủ yếu giữa mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường trong khai thác, sử dụng tài nguyên vùng ven biển, hải đảo và các nguy cơ, hiểm họa liên quan đến chính lợi ích của các cộng đồng trên địa bàn ven biển, hải đảo...
Để quảng bá cho thương hiệu Biển Việt Nam, cộng đồng dân cư sống ven biển, trên các đảo và cộng đồng nói chung sẽ phấn đấu trở thành "Đại sứ tiếp thị" cho thương hiệu biển Việt Nam. Các cơ quan thông tin báo chí cần chú trọng đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, tăng thời lượng phát sóng về chủ để khẳng định vị thế, bảo vệ chủ quyền quốc gia và các thành tựu hợp tác quốc tế của Việt Nam trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, hải đảo.
Kinh phí thực hiện Đề án dự kiến khoảng 175 tỷ đồng (không kể nguồn hỗ trợ và huy động theo hướng xã hội hóa từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước), trong đó ngân sách Trung ương là 118 tỷ đồng, ngân sách địa phương 57 tỷ đồng.
TMK (theo www.monre.gov.vn)



30/03/2010 12:00 SAĐã ban hành
UBND HUYỆN BA TRI CÔNG BỐ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 VÀ KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM KỲ ĐẦU (2011-2015) HUYỆN BA TRIUBND HUYỆN BA TRI CÔNG BỐ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 VÀ KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM KỲ ĐẦU (2011-2015) HUYỆN BA TRI
Ngày 19/12/2013, tại UBND huyện Ba Tri, Phó chủ tịch UBND huyện ông Nguyễn Văn Nghị chủ trì Hội nghị công bố quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015). Tham dự hội nghị có đại diện lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường; Chi cục Quản lý đất đai; các ban, ngành huyện, UBND các xã và thị trấn.



Tại hội nghị ông Mai Văn Ro – Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường đã công bố toàn văn Quyết định số 1940/QĐ-UBND ngày 24 tháng 10 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) của huyện Ba Tri. Theo đó, Diện tích đất trồng lúa 14.532,00 ha; đất trồng cây lâu năm 3.168,45 ha; đất rừng phòng hộ 1.779,00 ha; đất rừng sản xuất 23,00 ha; đất nuôi trồng thủy sản 5.479,05 ha; đất làm muối 806,00 ha; đất khu công nghiệp 86,00 ha; đất đô thị 2.406,82 ha; đất khu du lịch 267,00 ha; đất khu dân cư nông thôn 1.321,32 ha; các loại đất khác cũng được bố trí đảm bảo nhu cầu sử dụng đất cho các ngành trên địa bàn huyện.

Ông Nguyễn Văn Nghị Phó chủ tịch UBND huyện kết luận chỉ đạo hội nghị: Phải quản lý chặt chẽ diện tích đất trồng lúa, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng cần bảo vệ nghiêm ngặt; bảo đảm lợi ích giữa các khu vực có điều kiện phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ. Sử dụng hợp lý và bền vững quỹ đất sản xuất nông nghiệp trên cơ sở bảo vệ đất sản xuất nông nghiệp có năng suất cao.

Phòng Tài nguyên và Môi trường tham mưu cho UBND huyện lập kế hoạch các dự án được triển khai theo từng năm. Trên cơ sở đó tổ chức phương án thu hồi đất theo quy hoạch, đảm bảo cho người dân bị thu hồi đất có nơi tái định cư, tạo điều kiện có công ăn việc làm hoặc mua nhà trên diện tích đất đã thu hồi…



31/12/2013 12:00 SAĐã ban hành
Từ ngày 01/01/2009, Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực :NGƯỜI CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT SẼ CHỊU THUẾ  RA SAO ?Từ ngày 01/01/2009, Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực :NGƯỜI CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT SẼ CHỊU THUẾ  RA SAO ?
Ngày 01/01/2009, Luật thuế thu nhập cá nhân sẽ có hiệu lực thi hành. Theo đó người chuyển nhượng quyền sử đất và tài sản gắn liền với đất sẽ bị điều chỉnh bởi Luật này. Nhằm giúp bạn đọc tìm hiểu những quy định mới về thuế chuyển nhượng bất động sản khi Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực, chúng tôi xin tóm tắt trình bày phục vụ bạn đọc như sau :



Về cách tính thuế chuyển quyền sử dụng đất :
- Trường hợp 1: Khi xác định được giá chuyển nhượng bất động sản, giá mua bất động sản và các chi phí có liên quan thì thu nhập chịu thuế được xác định bằng giá chuyển nhượng trừ giá mua bất động sản và các chi phí có liên quan, trường hợp này thuế suất theo quy định là 25%. Trong đó, giá chuyển nhượng bất động sản là giá mua theo hợp đồng tại thời điểm chuyển nhượng; giá mua bất động sản là giá theo hợp đồng tại thời điểm mua; các chi phí có liên quan được trừ căn cứ vào chứng từ, hóa đơn theo quy định của pháp luật, bao gồm các loại phí, lệ phí theo quy định của pháp luật liên quan đến quyền sử dụng đất; chi phí cải tạo đất, cải tạo nhà, chi phí san lấp mặt bằng…
Ví dụ: Ông A chuyển nhượng QSD đất với giá tại thời điểm chuyển nhượng là 1.000 triệu (1 tỷ); Giá mua QSD đất đó trước đây là 800 triệu; Các chi phí đầu tư vào đất có liên quan (chi phí san lấp mặt bằng, cải tạo nhà…) là 100 triệu. Vậy thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với trường hợp trên là: (1.000 – 800 – 100) triệu x 25% = 25 triệu đồng.
- Trường hợp 2: Khi không xác định được giá mua và chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản thì thu nhập chịu thuế được xác định là giá chuyển nhượng bất động sản. Thuế suất theo quy định đối với trường hợp này là 2%.
Ví dụ: Giá QSD đất tại thời điểm chuyển nhượng là 1.000 triệu (1 tỷ). Vậy thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với trường hợp trên là: 1.000 triệu x 2% = 20 triệu đồng.
Qua hai trường hợp với hai mức thuế suất nêu trên, người dân có thể tính toán để kê khai nộp thuế theo cách nào có lợi hơn cho mình.
Các trường hợp được miễn thuế: Theo quy định tại Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân, thì các trường hợp chuyển nhượng quyền sử đất và tài sản gắn liền với đất sau đây được miễn thuế : Giữa vợ với chồng; Cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; Cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; Cha chồng, mẹ chồng với con dâu; Cha vợ, mẹ vợ với con rể; Ông nội/ngoại, bà nội/ngoại với cháu nội/ngoại; Anh chị em ruột với nhau; Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất.

Lê Uyên




28/11/2008 12:00 SAĐã ban hành
QUY ĐỊNH VỀ BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG, CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ HÌNH THỨC XỬ LÝ CÁC VI PHẠMQUY ĐỊNH VỀ BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG, CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ HÌNH THỨC XỬ LÝ CÁC VI PHẠM
Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường, khi tiến hành lập Báo cáo nghiên cứu khã thi của một dự án thì đồng thời chủ dự án phải lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Danh mục các dự án phải lập ĐTM được quy định tại phần Phụ lục của Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính Phủ.



Đối với các dự án không thuộc danh mục các dự án phải lập ĐTM và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ quy mô hộ gia đình thì phải lập Cam kết bảo vệ môi trường (CKBVMT) và chỉ triển khai hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khi được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận đăng ký bản CKBVMT. Sự phân biệt giữa ĐTM và CKBVMT là để thể hiện qui mô, mức độ ảnh hưởng đến môi trường của dự án và cũng để thuận lợi trong việc phân cấp quản lý giữa các cấp quản lý nhà nước về môi trường. Còn về bản chất thì ĐTM và CKBVMT hoàn toàn giống nhau. Xét dưới góc độ quản lý, nó được coi là một biện pháp quản lý nhà nước về môi trường; Xét dưới góc độ khoa học, nó là những nghiên cứu về mối liên hệ, những tác động biện chứng giữa các hoạt động phát triển và các khía cạnh môi trường từ khi dự án bắt đầu xây dựng và trong suốt quá trình hoạt động của dự án; Còn xét dưới góc độ pháp lý nó là hệ thống các quan hệ pháp luật hình thành giữa cơ quan quản lý nhà nước với các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động có tác động đến môi trường và nếu vi phạm thì các tổ chức, cá nhân sẽ phải chịu xử lý theo quy định của pháp luật. Hình thức xử lý đối với các hành vi vi phạm về ĐTM/CKBVMT là xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Điều 7 và Điều 8 của Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính Phủ. Vi phạm các quy định về ĐTM/CKBVMT là hành vi vi phạm phổ biến đối với các dự án, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Qua công tác thanh tra, kiểm tra của Sở Tài nguyên và Môi trường thường gặp những hành vi vi phạm sau:
- Hành vi không thực hiện ĐTM/CKBVMT mà tiến hành xây dựng, đưa dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vào hoạt động. Các tổ chức, cá nhân vi phạm quy định này thì chịu mức phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng đối với hành vi không có ĐTM và từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi không có CKBVMT. Ngoài ra, tổ chức, cá nhân vi phạm còn phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là lập đề án bảo vệ môi trường trình cho cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, xác nhận.
- Hành vi không xây, lắp, xây lắp không đúng, không vận hành thường xuyên hoặc vận hành không đúng quy trình đối với công trình xử lý môi trường theo nội dung ĐTM/CKBVMT đã được phê duyệt, xác nhận. Mức phạt tiền đối với hành vi này là từ 130.000.000 đồng đến 170.000.000 đồng cho dự án lập ĐTM và từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng cho dự án lập CKBVMT. Biện pháp khắc phục hậu quả là tiến hành xây lắp công trình xử lý môi trường và vận hành đúng quy trình theo nội dung ĐTM/CKBVMT đã được phê duyệt, xác nhận.
- Hành vi thực hiện không đúng, không đầy đủ các nội dung trong ĐTM/CKBVMT đã được phê duyệt, xác nhận. Mức phạt tiền đối với hành vi này là từ 40.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng cho dự án lập ĐTM và từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng cho dự án lập CKBVMT. Biện pháp khắc phục hậu quả là thực hiện đầy đủ các nội dung trong ĐTM/CKBVMT đã được phê duyệt, xác nhận.
- Bên cạnh đó, hành vi không niêm yết công khai tại địa điểm thực hiện dự án bản tóm tắt ĐTM đã được phê duyệt, không thực hiện giám sát chất thải, giám sát môi trường xung quanh, không lập ĐTM bổ sung,… cũng là hành vi vi phạm phổ biến đối với các dự án đã được phê duyệt ĐTM. Mức phạt tiền đối với các hành vi này cũng rất cao, có hành vi mức phạt tiền đến 100.000.000 đồng.
Thực tế, đa số các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn Bến Tre có quy mô vừa và nhỏ, vốn đầu tư thấp. Với chế tài xử lý vi phạm về môi trường có tính răn đe mạnh như hiện nay thì các cơ sở khó tồn tại nếu vi phạm các quy định về ĐTM/CKBVMT nói riêng và vi phạm về môi trường nói chung. Để không bị xử lý vi phạm về môi trường thì hơn ai hết chính chủ các dự án, các tổ chức và cá nhân phải chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ mà còn là quyền lợi của các tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới.
Nguyễn Minh Cường



21/05/2010 12:00 SAĐã ban hành
Công văn số 3637/STNMT-CCQLĐĐ ngày  30/12/2016 của Sở Tài nguyên và Môi trường về việc công bố kết quả kiểm kê đất đai năm 2014 tỉnh Bến TreCông văn số 3637/STNMT-CCQLĐĐ ngày  30/12/2016 của Sở Tài nguyên và Môi trường về việc công bố kết quả kiểm kê đất đai năm 2014 tỉnh Bến Tre
Công văn số 3637/STNMT-CCQLĐĐ ngày  30 tháng 12 năm 2016 của Sở Tài nguyên và Môi trường về việc công bố kết quả kiểm kê đất đai năm 2014 tỉnh Bến Tre

1. Nội dung công văn: CONG VAN 3637 KIEM KE ĐAT ĐAI.pdf

2. Biểu mẫu 01: Bieu 01.pdf

3. Biểu mẫu 02: Bieu 02.pdf

4. Biểu mẫu 03: Bieu 03.pdf

5. Biểu mẫu 04: Bieu 04.pdf

09/01/2017 10:00 SAĐã ban hành
Các vấn đề tài nguyên, môi trường cấp bách của tỉnh Bến TreCác vấn đề tài nguyên, môi trường cấp bách của tỉnh Bến Tre
Trên cơ sở đánh giá hiện trạng môi trường của tỉnh, việc xác định các vùng ô nhiễm suy thoái trọng điểm nhằm đưa ra và dự báo các vấn đề môi trường cấp bách. Từ đó đề xuất các chương trình kế hoạch bảo vệ môi trường trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai nhằm đảm bảo phát triển kinh tế trên cơ sở đảm bảo môi trường bền vững.



Trong những năm gần đây với chính sách thu hút đầu tư phát triển, nền kinh tế của tỉnh đã có những thay đổi lớn trong cơ cấu kinh tế, thu nhập GDP của tỉnh tăng lên. Quá trình phát triển đã tạo ra nhiều sản phẩm của cải vật chất cho xã hội, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng chung nền kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tăng thu nhập dân cư. Tuy nhiên đồng hành với nó là khối lượng chất thải phát sinh ngày càng nhiều, vấn đề ô nhiễm môi trường liên quan đến khí thải, nước thải và chất thải rắn đang và sẽ là nguy cơ làm biến đổi môi trường, suy giảm hệ sinh thái
Muốn vạch ra những định hướng, chiến lược bảo vệ môi trường hợp lý, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, chúng ta phải xác định được các vấn đề tài nguyên, môi trường cấp bách trên địa bàn tỉnh. Theo điều kiện tự nhiên, hiện trạng sử dụng đất, hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và các tập quán, sinh hoạt của người dân trên địa bàn tỉnh, về mặt môi trường có thể đưa ra các vấn đề tài nguyên, môi trường cấp bách như sau:
Khu vực đô thị hóa và khu vực chợ: bao gồm thành phố và các thị trấn trong tỉnh. Tốc độ đô thị hóa tại đây đã kéo theo sự gia tăng lượng khói bụi, tiếng ồn, chất thải rắn và nước thải (nước thải sinh hoạt, nước thải y tế, nước thải sản xuất từ các cơ sở sản xuất nằm xen lẫn trong các khu dân cư, chợ). Điều này dẫn đến môi trường trong khu vực có nhiều thay đổi đáng kể, làm xáo trộn môi trường sống của người dân và cảnh quan khu vực.
Khu vực nông thôn: qua các kết quả quan trắc môi trường cho thấy nồng độ thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu trong môi trường đất đã gây ảnh hưởng đến chất lượng đất và hệ sinh thái trong khu vực. Đặc biệt, một số nơi thuộc vùng lợ và vùng mặn, vấn đề cấp nước sạch sinh hoạt cho người dân tại nông thôn gặp rất nhiều khó khăn do nguồn nước bị nhiễm mặn và ô nhiễm môi trường từ chất thải chăn nuôi.
Các làng nghề: gồm các ngành nghề sản xuất, chế biến các sản phẩm từ trái dừa (chỉ xơ dừa, than thiêu kết, kẹo dừa, thạch dừa,...), mía (đường, kết tinh đường, ...) tập trung tại huyện Châu Thành, thành phố Bến Tre, Giồng Trôm. Hiện nay, tỉnh Bến Tre có 31 làng nghề đang hoạt động với hình thức sản xuất chủ yếu là nghề phụ gia đình. Các làng nghề, ngành nghề còn phát triển manh mún và mang nặng tâm lý sản xuất nhỏ. Hầu hết, các cơ sở đều thiếu vốn đầu tư, mặt bằng và ý thức bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất còn nhiều hạn chế. Các chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của cơ sở, chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.
Khu vực nuôi trồng thủy sản và khu vực rừng ven biển: Việc phát triển nuôi trồng thủy sản đã dẫn đến tình trạng nhiều diện tích rừng ngập mặn bị phá hủy. Môi trường bị ô nhiễm do việc phá rừng đắp đập nuôi tôm, quy hoạch hệ thống thủy lợi chưa đồng bộ, thức ăn cho tôm đã dẫn đến tình hình môi trường nước trong khu vực bị ô nhiễm. Đặc biệt là tình hình nhiễm mặn vào các nguồn nước do thủy triều và quá trình dẫn nước mặn vào khu vực nội đồng nuôi trồng thủy sản.
Các bãi chôn lấp chất thải rắn: Hiện nay, công nghệ xử lý chất thải rắn tại các bãi rác trên địa bàn tỉnh là đổ tự nhiên, từ trong ra ngoài, thành nhiều lớp để phân hủy tự nhiên và chôn lấp một phần; chưa áp dụng bất kỳ công nghệ xử lý hoặc tái chế chất thải rắn nào. Tất cả các bãi rác trên địa bàn tỉnh đều chưa đạt chuẩn bãi chôn lấp hợp vệ sinh, nên phát sinh mùi hôi nặng, ruồi, muỗi, chuột, có thể gây nên dịch bệnh cho dân cư khu vực. Nước rò rỉ ra từ bãi rác được thẩm thấu tự nhiên, đe dọa tới nguồn nước mặt, cũng như nước ngầm.
Khu vực dọc theo các con sông lớn của tỉnh gồm sông Tiền Giang, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Bến Tre và kênh Chợ Lách. Đây là khu vực diễn ra tình hình xói bồi thường xuyên do sự tác động của các hoạt động của con người và các công trình thủy lợi.
Trước các vấn đề tài nguyên, môi trường cấp bách trên, để bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên tỉnh Bến Tre, chúng ta phải thực hiện đồng thời một số chương trình sau: Nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường; Kiểm soát ô nhiễm nguồn nước mặt do nước thải, khí thải các làng nghề, khu, cụm công nghiệp và các đô thị; Nâng cấp, cải tạo và xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải sinh hoạt đô thị, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, làng nghề; Quản lý và xây dựng hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn; Kiểm soát và xử lý nước thải do hoạt động chăn nuôi và nuôi thủy sản; Kiểm soát xâm nhập mặn, hạn chế và giảm nhẹ tác hại của quá trình xâm nhập mặn diễn ra tại các huyện ven biển; Cấp nước sạch cho vùng bị xâm nhập mặn, cải tạo tình hình vệ sinh môi trường vùng nông thôn; Kiểm soát sạt lở bờ sông và Kiểm soát ô nhiễm chất lượng đất do sử TBVTV và phân bón trong nông nghiệp.
Mai Hanh



19/10/2010 12:00 SAĐã ban hành
Hoạt động bảo vệ môi trường tại hộ gia đìnhHoạt động bảo vệ môi trường tại hộ gia đình
Môi trường gắn liền với cuộc sống của mỗi người. Trong phạm vi hộ gia đình, môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của các thành viên trong gia đình đó. Nếu các thành viên trong gia đình đều có ý thức và hành động bảo vệ môi trường, thì các vấn đề môi trường mới có thể giải quyết được ở phạm vi địa phương, khu vực hay toàn cầu. Luật hóa các quy định BVMT đối với hộ gia đình nhằm hướng dẫn các hộ gia đình tham gia công tác BVMT có hiệu quả, thiết thực.



Theo Điều 53, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định như sau:
1. Hộ gia đình có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường sau đây:
- Thu gom và chuyển chất thải sinh hoạt đến đúng nơi do tổ chức giữ gìn vệ sinh môi trường tại địa bàn quy định; xả nước thải vào hệ thống thu gom nước thải;
- Không được phát tán khí thải, gây tiếng ồn và tác nhân khác vượt quá tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, sinh hoạt của cộng đồng dân cư xung quanh;
- Nộp đủ và đúng thời hạn các loại phí bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật;
- Tham gia hoạt động vệ sinh môi trường khu phố, đường làng, ngõ xóm, nơi công cộng và hoạt động tự quản về bảo vệ môi trường của cộng đồng dân cư;
- Có công trình vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm bảo đảm vệ sinh, an toàn đối với khu vực sinh hoạt của con người;
- Thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong hương ước, bản cam kết bảo vệ môi trường.
2. Thực hiện tốt các quy định về bảo vệ môi trường là một trong những tiêu chí gia đình văn hóa.
Để thực hiện tốt Điều này và hoạt động bảo vệ môi trường tại hộ gia đình có hiệu quả, thiết thực các hộ gia đình cần thực hiện tốt các yêu cầu sau:
Tuyệt đối không vứt rác bừa bãi xuống sông, rạch, ra đường, nơi cộng cộng,..... Tạo thói quen tiết kiệm trong mua sắm hàng hóa, để thải ít rác và phân loại rác để tận dụng, tiết kiệm, tái sinh rác. Mỗi hộ gia đình ở nông thôn nên đào hố xử lý rác, để tránh thải rác thải tràn lan gây mất vệ sinh. Mùa khô nên gom đốt rác sạch sẽ, mùa mưa hay mùa ngập nước lũ cần lấp kín miệng hố để rác không trôi đi. Mỗi hộ gia đình ở khu thành thị, khu dân cư tập trung cần thực hiện đổ rác đúng nơi quy định và đóng lệ phí thu gom rác theo quy định.
Các loại rác khô – rác vô cơ, gồm: giấy vụn, sách, báo cũ, chai lọ thủy tinh, lon kim loại, sành sứ, cao su, nhựa, vải vụn, đồ điện, xà bần…. cần chứa vào thùng hoặc bao riêng để sử dụng lại, cho người khác hoặc bán phế liệu.
Các loại rác ướt – rác hữu cơ, gồm: lá cây rụng, rau quả hư hỏng, đồ ăn thừa, xác độmg vật, phân chăn nuôi,…. cần chứa vào thùng có nắp đậy kín để tránh chuột, gián, ruồi và hạn chế mùi hôi. Hàng ngày đổ rác vào đúng nơi quy định để ủ phân (hố chôn lấp rác tại hộ gia đình) hoặc hợp đồng thu gom, xử lý rác thải tại các bãi xử lý rác tập trung của địa phương.
Các loại rác độc hại, gồm: pin, bình ắc quy, hóa chất các loại, thuốc trừ sâu,…. cần lưu giữ riêng biệt để bán phế liệu (nếu có người mua) hoặc chứa kín, đặt xa khu dân cư hoặc chôn sâu vào đất ở nơi xa khu dân cư và nguồn nước.
Thực hiện khẩu hiệu “3T”: Tiết kiệm – Tận dụng – Tái sinh theo nguyên tắc càng ít chất thải thải ra môi trường càng tốt.
- Tiết kiệm: là giảm việc sử dụng bao bì, khi có thể nên mua đồ dùng có khối lượng lớn để dùng dần (bột giặt, dầu gội đầu,…) vừa rẻ vừa ít bao bì. Hạn chế mua các sản phẩm có bao bì cầu kỳ và nhiều, vì khi đóng gói đã phải tiêu thụ nhiều nguyên, nhiên liệu, khi in cũng thải ra nhiều chất nguy hiểm và khi đốt rác sẽ sinh ra các chất độc hại cho môi trường và con người. Nên mua các sản phẩm được bao gói hay đựng trong những bao bì có thể tái sinh được, các loại sản phẩm có bao bì dễ tiêu hủy trong tự nhiên hoặc có thể dùng lại nhiều lần, sẽ tiết kiệm nguyên liệu lấy từ thiên nhiên. Sử dụng cả 2 mặt giấy khi photocppy, viết và in. Cố gắng dùng các loại giấy tái sinh nhằm hạn chế chặt hạ cây để làm giấy mới.
Nên đem theo dụng cụ đựng hàng hóa (giỏ, túi xách, ….) thay cho việc dùng giấy, bịch nilong khi đi chợ, mua sắm, vừa tiết kiệm vừa giảm rác thải.
- Tận dụng rác: Đồ dùng trong nhà, quần áo, đồ chơi cũ không sử dụng nữa, thì cho người khác tiếp tục sử dụng. Các loại vải vụn có thể nối ráp thành đồ dùng, vật trang trí, quần áo rách dùng làm giẻ lau,.. Sách báo, tập vở cũ dùng làm giấy gói, bao bì. Chai, bình, hũ,… dùng đựng sản phẩm khác hay tạo thành vật trang trí trong nhà. Xà bần các loại dùng trải đường, lát nền…
- Tái sinh rác: Kim loại (đồng, kẽm, chì, sắt, thép, thau…) được luyện lại và chế tạo ra đồ dùng, vật liệu. Chai lọ, ống thuốc, thủy tinh được thu gom về nấu lại và thổi thành các dạng chai lọ mới. Các đồ dùng vật liệu nhựa, bao nylong được tái chế thành đồ dùng, bao bì, bục kê. Giấy vụn được tái chế thành giấy bao bì, thùng cáctông.
Các loại phân chuồng, thức ăn thừa của người và gia súc cho vào hầm biogaz để tạo thành chất đốt phục vụ việc đun nấu, thắp sáng…
Xử lý nước thải: Các hộ gia đình cần có đường thoát nước ra cống công cộng hoặc mương thoát nước; không thải nước thải tràn lan ra đường vừa mất vệ sinh và mỹ quan. Tận dụng nước rửa rau để tưới cây, nước giặt quần áo để lau chùi đồ vật, quét dọn nhà cửa, rửa xe,… Nước tiểu, nước thải từ chuồng trại chăn nuôi, khu vệ sinh cần thu gom, xử lý bằng hầm tự hoại hoặc hầm biogaz.
Chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm hợp vệ sinh thực hiện theo quy định tại Quyết định số 04/2009/QĐ-UBND ngày 10 tháng 4 năm2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre Về Ban hành Quy định về bảo vệ môi trường đối với hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
Mai Hanh



24/08/2010 12:00 SAĐã ban hành
Các yếu tố ảnh hưởng đến xu thế xâm nhập mặn ở tỉnh Bến TreCác yếu tố ảnh hưởng đến xu thế xâm nhập mặn ở tỉnh Bến Tre
Bến Tre là một trong 13 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Vị trí địa lý, phía Đông giáp với biển Đông nên hệ thống sông ngòi, kênh rạch chịu ảnh hưởng chủ yếu của triều biển Đông. Do vậy, nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh thường bị xâm nhập mặn, nhất là vào mùa khô, qua 3 cửa sông: cửa Đại, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên.



Nguồn nước mặt trong tỉnh khá phong phú nhưng trên ¾ diện tích toàn tỉnh (nước trong hệ thống sông ngòi, kênh rạch và vùng trũng thấp) bị nhiễm mặn từ: 2 – 3 tháng hoặc quanh năm. Bến Tre thường thiếu nước ngọt trong mùa khô và vấn đề xâm nhập mặn hầu như ảnh hưởng đến toàn bộ diện tích của tỉnh; ngoài ra, các hoạt động phát triển kinh tế xã hội cũng góp phần làm cho tình hình xâm nhập mặn ảnh hưởng trên diện rộng và ngày càng sâu sắc hơn. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến xu thế xâm nhập mặn ở Bến Tre:
- Thứ nhất là do địa hình của tỉnh Bến Tre có dạng hình quạt nan, nhìn chung tương đối bằng phẳng, có xu thế thấp dần từ hướng Tây Bắc xuống hướng Đông Nam và nghiêng ra biển.
Có 3 dạng địa hình cơ bản: Vùng địa hình thấp có độ cao dưới 01 m: bị ngập nước khi triều lên bao gồm một số đất ruộng ở lòng chảo xa sông, các bãi triều ven sông, bãi bồi ven biển và khu vực rừng ngập mặn, chiếm 6,7% diện tích toàn tỉnh. Vùng địa hình trung bình có độ cao từ 1 – 2 m: là vùng đất ngập trung bình họăc ít ngập theo triều, chỉ bị ngập khi triều cường vào tháng 9 – 12, chiếm khoảng 87,5% diện tích toàn tỉnh. Vùng có địa hình cao có cao độ từ 2 – 3,5 m, có nơi cao trên 5 m, chiếm 5,8% diện tích toàn tỉnh.
Chính vì đặc điểm địa hình trên, với 94,2% diện tích tự nhiên bị ảnh hưởng của thủy triều nên việc xâm nhập mặn do thủy triều chiếm ưu thế ở tỉnh Bến Tre.
- Thứ hai là do Tỉnh có nhiệt độ và số giờ nắng trung bình cao, kết hợp với lượng mưa trung bình không cao cùng với gió chướng đã tạo điều kiện cho nước mặn xâm nhập dễ hơn và sâu hơn vào trong đất liền.
- Thứ ba là do Tỉnh có hệ thống sông, kênh, rạch chằng chịt. Bến Tre có 45 kênh rạch chính với tổng chiều dài 383 km và 04 nhánh sông chính của hệ thống sông Cửu Long là: sông Tiền Giang dài 90 km, lưu lượng mùa mưa: 6.480 m3/s, mùa khô 1.598 m3/s; sông Ba Lai dài 70 km, lưu lượng mùa mưa: 240 m3/s, mùa khô 59 m3/s; sông Hàm Luông dài 72 km, lưu lượng mùa mưa: 3.360 m3/s, mùa khô 829 m3/s và sông Cổ Chiên dài 87 km, lưu lượng mùa mưa: 2.280 m3/s, mùa khô 710 m3/s.
- Thứ tư là do Bến Tre có chế độ triều Biển Đông là chế độ bán nhật triều không đều, mỗi ngày có hai lần nước lên và hai lần nước xuống. Hàng tháng có hai kỳ triều cường (03 và 17 âm lịch) và hai kỳ triều kém (10 và 25 âm lịch). Đỉnh triều bình quân trong năm cao nhất vào tháng 10 (130 cm), tháng 11 (132 cm), chân triều bình quân cao nhất vào tháng 1 (39 cm), thấp nhất vào tháng 6 (-154 cm), tháng 7 (-146 cm) với biên độ triều trong năm biến thiên từ 201 – 241 cm.
- Thứ năm là tỉnh có một số hướng sóng nguy hiểm, như: hướng Đông Bắc, Đông, Đông Nam. Theo vận tốc gió khác nhau cho độ cao sóng ở Bến Tre không lớn lắm (từ 0,3 – 1,5) và giảm từ ngoài khơi vào bờ với chu kỳ sóng từ 3 – 6 giây. Hệ thống sông rạch với dòng chảy nhỏ, lưu lượng thấp, địa hình bằng phẳng kết hợp với hướng sóng đánh vuông góc với bờ biển nên thủy triều dễ dàng xâm nhập vào sâu trong đất liền.
Trong mùa khô kiệt hàng năm (từ tháng 1 - 4), lượng nước mưa hầu như không đáng kể, nguồn nước ngọt duy nhất vào hệ thống sông ngòi của Tỉnh là nguồn nước sông Tiền (được tiếp nước từ dòng chảy thượng nguồn sông Mêkông) trùng với thời kỳ lưu lượng thượng nguồn tương đối nhỏ và nhỏ nhất vào tháng IV; nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp lớn, độ dốc lòng sông nhỏ, địa hình khá bằng phẳng tạo điều kiện thuận lợi cho nước mặn theo sông rạch vào đất liền.
Tác động tương hỗ giữa dòng chảy sông và động lực biển gây ảnh hưởng trực tiếp đến các khu vực ven biển, đặc biệt mực nước sông xuống thấp; dòng chảy ra biển không đủ mạnh để ngăn nước mặn chảy ngược vào cùng với triều cường có thể đẩy ngược nước mặn vào sâu trong sông và hệ thống kênh rạch tạo ra một vùng nước nhiễm mặn với các nồng độ khác nhau.
- Thứ sáu là do diện tích đất nuôi trồng thủy sản tăng nhanh, gần 10 lần trong vòng 18 năm trở lại đây và có khuynh hướng chựng lại kể từ năm 2000. Nguyên nhân của sự gia tăng này, chủ yếu do việc mở rộng đất nuôi tôm biển vùng ven biển Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú. Chính việc gia tăng diện tích đất nuôi trồng thủy sản đồng nghĩa với việc một diện tích lớn rừng ngập mặn bị phá hủy. Rừng ngập mặn mất đi làm cho thủy triều, sóng biển dễ xâm nhập vào đất liền gây ra xâm nhập mặn. Bên cạnh đó, để phục vụ cho nuôi tôm, người dân đã dẫn nước mặn từ biển vào các vuông tôm làm cho độ măn trong đất và nước ở đây tăng cao.
- Thứ bảy là do việc khai thác nước ngầm để sử dụng là một vấn đề tất yếu ở tỉnh Bến Tre, vì hầu hết nguồn nước mặt của tỉnh là bị nhiễm phèn, mặn. Tuy nhiên, do gia tăng dân số, phát triển kinh tế xã hội, bùng nổ các hoạt động nuôi tôm làm cho việc khai thác nước ngầm ở đây hoạt động rất mạnh mẽ. Chính vì việc khai thác nước ngầm quá mức đã làm cạn kiệt nguồn nước ngầm. Nước mặn từ biển và tầng nước mặn dễ thẩm thấu vào tầng nước ngầm gây nhiễm mặn nước ngầm.
- Thứ tám là do hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng đang bước đầu được hình thành. Tuy nhiên, do vùng nuôi và phương thức nuôi chưa được xác định ổn định nên ngoại trừ một số vùng nuôi công nghiệp – bán công nghiệp đang xây dựng hệ thống cấp và tiêu nước riêng biệt với các công trình đầu mối quan trọng, các vùng còn lại chỉ mới bước đầu định hình hệ thống thủy lợi.
Xâm nhập mặn là vấn đề quan trọng ở tỉnh Bến Tre. Hiện nay, dù đã xây dựng nhiều hệ thống thủy lợi để ngăn mặn nhưng độ mặn trong môi trường đất, nước vẫn ảnh hưởng đến tài nguyên, sinh vật và hoạt động sống của con người nơi đây. Trong những năm gần đây, tình trạng xâm nhập mặn cả về nồng độ lẫn chiều sâu vào nội địa ở tỉnh Bến Tre đang là vấn đề nóng và cần phải được quan tâm giải quyết cũng như có biện pháp phòng tránh để phục vụ sản xuất và nguồn nước sinh hoạt ở địa phương.
Theo dự báo đến năm 2010 và hơn nữa đồng bằng sông Cửu Long phải đối đầu với việc thiếu hụt nguồn nước, hạn hán kéo dài và nhu cầu sử dụng nước của các nước thượng lưu, tình trạng này dẫn đến nguy cơ xâm nhập mặn sâu hơn gây khó khăn cho việc cấp nước ngọt phục vụ sản xuất sinh hoạt và tỉnh Bến Tre không nằm ngoài nguy cơ đó.
Mai Hanh



20/11/2009 12:00 SAĐã ban hành
Quyết định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2015-2019Quyết định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2015-2019
Ngày 27 tháng 02 năm 2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 08/2017/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2015-2019 ban hành kèm theo Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 19 tháng 12 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre
07/03/2017 9:00 SAĐã ban hành
Bến Tre thực hiện "Dự án phân vùng chức năng đới bờ tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030"Bến Tre thực hiện "Dự án phân vùng chức năng đới bờ tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030"
Đới bờ hay còn gọi là vùng ven biển, bao gồm vùng biển ven bờ có ranh giới ngoài cách bờ khoảng 6 hải lý và vùng đất ven biển là các xã, phường, thị trấn giáp biển. Phân vùng chức năng đới bờ nhằm hướng tới khai thác, sử dụng hợp lý các tài nguyên và không gian đới bờ; giảm thiểu xung đột lợi ích giữa các ngành kinh tế; bảo vệ, duy trì và khôi phục các hệ sinh thái đới bờ

SoDoPhamViNghienCuu.jpg

Thực hiện Quyết định số 2295/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Trong đó, giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và các tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc Trung ương thực hiện nhiệm vụ "Xây dựng phân vùng chức năng đới bờ". sau một thời gian nghiên cứu, đến ngày 18 tháng 10 năm 2016, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre Quyết định số 2943/QĐ-UBND phê duyệt đề cương dự án "Phân vùng chức năng đới bờ tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030".

Dự án có thời gian thực hiện trong hai năm 2017, 2018 với các nhiệm vụ chính như sau:

- Điều tra, khảo sát, phân tích, đánh giá hiện trạng tài nguyên môi trường; hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường; Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội vùng đới bờ tỉnh Bến Tre;

- Phân tích, đánh giá tổng quát về tình hình quản lý, hiện trạng các quy hoạch, khai thác sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường đới bờ tỉnh Bến Tre; Phân tích thể chế quản lý tài nguyên môi trường hiện hành; Phân tích các mâu thuẫn sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường đới bờ hiện tại và tương lai.

- Đề xuất phân vùng: Đưa ra được các tiêu chí phân loại các vùng sử dụng đới bờ; Lập bản đồ phân vùng đới bờ; Đề xuất các quy định liên quan đến sử dụng đối với các vùng; Đề xuất các chương trình hoạt động, dự án, đề tài ưu tiên thực hiện tại đới bờ tỉnh Bến Tre đến năm 2030.

Phạm vi thực hiện dự án bao gồm phần đất liền và phần biển (xem họa đồ kèm theo):

- Phần đất liền: Bao gồm cả các xã ven biển thuộc ba huyện ven biển của tỉnh Bến Tre, gồm các xã: xã Bình Thắng, Thừa Đức, Thới Thuận huyện Bình Đại; Bảo Thạnh, Bảo Thuận, Tân Thủy,An Thủy huyện Ba Tri; xã Giao Thạnh,An Điền, Thạnh Hải, Thạnh Phong huyện Thạnh Phú.

- Phần biển: Vùng biển ven bờ từ đường từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình nhiều năm ra xa 06 hải lý (theo Điều 8, Nghị định 40/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo).

          Với nhiệm vụ được giao chủ trì thực hiện, Sở Tài nguyên và Môi trường đang khẩn trương phối hợp với các Sở ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, xã ven biển, tổ chức thực hiện dự án để đạt mục tiêu của dự án phân vùng chức năng đới bờ đề ra cả về chất lượng và tiến độ thực hiện nhằm khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên ven biển và các nguồn lợi khác một cách hợp lý, khoa học kết hợp bảo vệ môi trường bền vững; giảm thiểu mâu thuẫn về lợi ích giữa các bên liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên, không gian đới bờ, làm cơ sở cho các ngành và các huyện ven biển của tỉnh xây dựng, điều chỉnh và triển khai thực hiện các quy hoạch, kế hoạch liên quan, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, kết hợp bảo vệ môi trường đới bờ tỉnh Bến Tre theo hướng bền vững./.

Vĩnh Thịnh

06/02/2017 1:40 CHĐã ban hành
Bến Tre thực hiện quy định về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biểnBến Tre thực hiện quy định về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển
Thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, để tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và đảm bảo khai thác hiệu quả, bền vững quỹ đất ven biển, ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, UBND tỉnh đã có ý kiến chỉ đạo tại Công văn số 585/UBND-KT ngày 20/02/2017 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

Theo quy định tại khoản 1, Điều 79 của Luật tài nguyên và môi trường biển và hải đảo "Kể từ thời điểm Luật này được công bố (tức là ngày 08/7/2015), giữ nguyên hiện trạng", không được phép đầu tư, xây dựng mới công trình trong phạm vi 100m tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển xác định theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường (tại Công văn số 3628/BTNMT-TCBHĐVN ngày 01/9/2015 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo) cho đến khi hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập theo quy định của Luật này, trừ các trường hợp sau: (01) Xây dựng mới công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phòng, chống thiên tai, sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; (02) Xây dựng mới công trình theo dự án đầu tư phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển quyết định chủ trương đầu tư; (03) Xây dựng công trình theo dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc xây dựng công trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng trước thời điểm Luật này được công bố.

Thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, để tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và đảm bảo khai thác hiệu quả, bền vững quỹ đất ven biển, ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, UBND tỉnh đã có ý kiến chỉ đạo tại Công văn số 585/UBND-KT ngày 20/02/2017 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. UBND tỉnh Bến Tre yêu cầu các Sở, ban, ngành có liên quan và UBND 3 huyện ven biển thực hiện một số nội dung trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 27/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và quản lý đất đai các dự án ven biển.

Hai là, có trách nhiệm rà soát, báo cáo việc quản lý, sử dụng hành lang bờ biển; số lượng cụ thể các công trình, dự án của các tổ chức doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng và đánh giá sơ bộ mức độ ảnh hưởng của các dự án này khi áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 79 của Luật tài nguyên và môi trường biển và hải đảo, phân loại theo nhóm gồm: các dự án đã được giao đất, cho thuê đất; các dự án đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500, nhưng chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất; các dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư , nhưng chưa phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500; đề xuất UBND tỉnh chủ trương xử lý chung.

              Ba là, kiểm tra, đánh giá sự phù hợp của các dự án đầu tư tại khu vực ven biển với quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt; rà soát tổng thể các dự án để điều chỉnh quy hoạch xây dựng gắn với quy hoạch sử dụng đất đảm bảo lợi ích cộng đồng dân cư và doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn; khai thác sử dụng không gian ven biển hiệu quả, thích ứng với biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh quốc phòng, đảm bảo quỹ đất bố trí hạ tầng kỹ thuật, khu du lịch, công viên, khu vực bảo tồn, phòng hộ…

so_do_pham_vi_nc.jpg

Đồng thời giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan và UBND 3 huyện ven biển xây dựng Dự án “Thiết lập và quản lý hành lang bảo vệ bờ biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre” đúng theo thời gian Luật định./.

Bài và ảnh: Vĩnh Thịnh

28/11/2017 10:00 SAĐã ban hành
Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp  tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh Bến TreQuy chế phối hợp quản lý tổng hợp  tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Ngày 04/10/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ký Quyết định số 52/2017/QĐ-UBND ban hành Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển tỉnh Bến Tre

          Ngày 04/10/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ký Quyết định số 52/2017/QĐ-UBND ban hành Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển tỉnh Bến Tre. Việc ban hành quy chế nhằm mục đích đưa hoạt động quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh đảm bảo chặt chẽ, hiệu quả theo đúng quy định pháp luật; thiết lập cơ chế phối hợp đồng bộ, phân định và nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa các sở, ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức có liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện ven biển trong hoạt động quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; và nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường biển theo hướng bền vững.

mot_goc_bo_ThanhPhu.png

Một góc bờ biển Thạnh Phú, Bến Tre

Quy chế phối hợp được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm sự quản lý thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, phân công rõ nhiệm vụ của từng sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện ven biển và các tổ chức có liên quan trong việc chủ trì, phối hợp thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; việc thực hiện các nhiệm vụ phối hợp phải trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, bảo đảm bí mật quốc gia và bảo mật thông tin theo quy định của pháp luật; tuân thủ các quy định của Quy chế này và các quy định của pháp luật có liên quan; không cản trở các hoạt động khai thác, sử dụng hợp pháp tài nguyên biển, hải đảo và các hoạt động hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân trên vùng biển của tỉnh.

Quy chế gồm có 03 Chương và 11 Điều, các nội dung phối hợp được nêu trong quy chế gồm:

- Phối hợp xây dựng, thực hiện văn bản pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.

- Phối hợp lập và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch sử dụng khai thác bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển; quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển; quy hoạch khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ.

- Phối hợp quản lý, thực hiện hoạt động điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về tài nguyên môi trường biển.

- Phối hợp thiết lập hệ thống quan trắc, giám sát tổng hợp về tài nguyên, môi trường biển; xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển.

- Phối hợp kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; ứng phó, khắc phục sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển.

- Phối hợp tuyên truyền về biển và hải đảo; phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

- Phối hợp hợp tác quốc tế về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo.

- Thanh tra, kiểm tra giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.

Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển tỉnh Bến Tre có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/10/2017./.

Vĩnh Thịnh


28/11/2017 10:00 SAĐã ban hành
Thông báo về việc góp ý dự thảo văn bảnThông báo về việc góp ý dự thảo văn bản
Góp ý dự thảo văn bản

I. Góp ý dự thảo văn bản về 4 nội dung sau:

   1. Góp ý dự thảo Quyết định Ban hành quy chế phối hợp trong việc xác định nghĩa vụ tài chính khi thực hiện các thủ tục về giao đất, cho thuê đất, cho thuê mặt nước, chuyển mục đích sử dụng đất, đăng ký biến động đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

   2. Góp ý dự thảo Quyết định Về việc ban hành quy định hạn mức giao đất trống, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

  3. Góp ý dự thảo Quyết định ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

   4. Góp ý dự thảo Quyết định Quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

II. Thời gian
    Thời gian góp ý dự thảo văn bản: Từ ngày 19/4/2017 đến ngày 20/5/2017
III. Địa chỉ nhận góp ý
     Các ý kiến đóng góp về nội dung của 4 văn bản trên gửi về Chi cục Quản lý đất đai - Sở Tài nguyên và Môi trường, có thể bằng văn bản hoặc địa chỉ email (chicucqlddbentre@gmail.com).

Tải nội dung văn bản dự thảo:
1. du_thao_QD_quy_che_phoi_hop_2017_04_19-QD-UBND.doc

2. Du_thao_QD_han_muc_giao_dat_trong_2017_04_19-QD-UBND.doc

3. Du_thao_QD_BoiThuong_2017.doc

Du_thao_Quy_dinh_BoiThuong_2017.doc

4. Du_thao_QD_tach_thua_2017_04_19-QD-UBND.doc


19/04/2017 3:00 CHĐã ban hành
Bến Tre thực hiện quy định về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biểnBến Tre thực hiện quy định về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển
Ngày 20/02/2017, UBND tỉnh ban hành Công văn số 585/UBND-KT chỉ đạo các sở, ban ngành và các huyện ven biển về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

​       Ngày 20/02/2017, UBND tỉnh ban hành Công văn số 585/UBND-KT chỉ đạo các sở, ban ngành và các huyện ven biển về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

         Theo quy định tại khoản 1, Điều 79 của Luật tài nguyên và môi trường biển và hải đảo "Kể từ thời điểm Luật này được công bố (tức là ngày 08/7/2015), giữ nguyên hiện trạng", không được phép đầu tư, xây dựng mới công trình trong phạm vi 100m tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển xác định theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường (tại Công văn số 3628/BTNMT-TCBHĐVN ngày 01/9/2015 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo) cho đến khi hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập theo quy định của Luật này, trừ các trường hợp sau: (01) Xây dựng mới công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phòng, chống thiên tai, sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; (02) Xây dựng mới công trình theo dự án đầu tư phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển quyết định chủ trương đầu tư; (03) Xây dựng công trình theo dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc xây dựng công trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng trước thời điểm Luật này được công bố.

      Thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, để tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và đảm bảo khai thác hiệu quả, bền vững quỹ đất ven biển, ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, UBND tỉnh đã có ý kiến chỉ đạo tại Công văn số 585/UBND-KT ngày 20/02/2017 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. UBND tỉnh Bến Tre yêu cầu các Sở, ban, ngành có liên quan và UBND 3 huyện ven biển thực hiện một số nội dung trọng tâm sau:

       Một là, tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 27/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và quản lý đất đai các dự án ven biển.

       Hai là, có trách nhiệm rà soát, báo cáo việc quản lý, sử dụng hành lang bờ biển; số lượng cụ thể các công trình, dự án của các tổ chức doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng và đánh giá sơ bộ mức độ ảnh hưởng của các dự án này khi áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 79 của Luật tài nguyên và môi trường biển và hải đảo, phân loại theo nhóm gồm: các dự án đã được giao đất, cho thuê đất; các dự án đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500, nhưng chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất; các dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư , nhưng chưa phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500; đề xuất UBND tỉnh chủ trương xử lý chung.

        Ba là, kiểm tra, đánh giá sự phù hợp của các dự án đầu tư tại khu vực ven biển với quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt; rà soát tổng thể các dự án để điều chỉnh quy hoạch xây dựng gắn với quy hoạch sử dụng đất đảm bảo lợi ích cộng đồng dân cư và doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn; khai thác sử dụng không gian ven biển hiệu quả, thích ứng với biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh quốc phòng, đảm bảo quỹ đất bố trí hạ tầng kỹ thuật, khu du lịch, công viên, khu vực bảo tồn, phòng hộ…         

          Đồng thời giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan và UBND 3 huyện ven biển xây dựng Đề án "Thiết lập và quản lý hành lang bảo vệ bờ biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre" đúng theo thời gian Luật định./.

Vĩnh Thịnh

24/02/2017 7:30 SAĐã ban hành
HƯỚNG DẪN THU GOM, LƯU TRỮ, BẢO QUẢN VÀ DÁN NHÃN CHẤT THẢI NGUY HẠI (CTNH)HƯỚNG DẪN THU GOM, LƯU TRỮ, BẢO QUẢN VÀ DÁN NHÃN CHẤT THẢI NGUY HẠI (CTNH)
Các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phát sinh chất thải nguy hại (CTNH) với khối lượng nhỏ nên gặp khó khăn trong việc hợp đồng với đơn vị có chức năng để chuyển giao CTNH. Theo quy định, các doanh nghiệp có thể lưu trữ tạm thời CTNH tại doanh nghiệp trong khoảng thời gian tối đa 06 tháng, khi khối lượng CTNH lớn chủ doanh nghiệp phải chuyển giao cho các đơn vị có giấy phép hành nghề vận chuyển, xử lý CTNH. Do đó việc thu gom, đóng gói, dán nhãn CTNH tại doanh nghiệp là khâu có ý nghĩa, tầm quan trọng cho việc lựa chọn phương pháp xử lý phù hợp và đảm bảo an toàn trong lưu giữ, vận chuyển.



Quá trình thu gom chất thải tại nguồn được thực hiện bởi các công nhân trong doanh nghiệp. Tùy thuộc vào dây chuyền sản xuất và bố trí lao động mà mỗi doanh nghiệp có 01 phương thức thu gom CTNH khác nhau. Việc vận chuyển CTNH từ chủ nguồn thải đến nơi xử lý được tiến hành bởi thỏa thuận giữa chủ nguồn thải và chủ vận chuyển, xử lý CTNH.
Đóng gói CTNH thường được thực hiện bởi chủ nguồn thải CTNH, việc đóng gói phải thỏa mãn các quy định:
Đóng gói bằng bao bì có chất lượng tốt, không bị lỗi kỹ thuật. Bao bì phải được đóng kín và ngăn ngừa rò rỉ khi vận chuyển. Không để CTNH dính bên ngoài bao bì. Bao bì mới hoặc bao bì tái sử dụng phải đảm bảo đầy đủ các tính năng (tính ăn mòn, tính chịu ma sát…) và yêu cầu kỹ thuật (áp suất, nhiệt độ…) của bao bì được phép sử dụng. Bản chất và độ dày của lớp bao bì phải thích hợp, không gây ra nhiệt trong quá trình vận chuyển.
Bao bì (kể cả phụ tùng đi kèm như nắp, vòi, vật liệu bịt kín,…) tiếp xúc trực tiếp với CTNH phải bền, không tương tác hóa học hay tác động khác với chất đó. Vật liệu làm bao bì không chứa thành phần có thể phản ứng với chất chứa bên trong tạo ra những sản phẩm nguy hiểm hay sản phẩm làm giảm độ bền của bao bì. Một số loại vật liệu plastic, có thể mềm, bị nứt gãy hay bị thấm do thay đổi nhiệt độ, do những phản ứng hóa học của vật chứa hay do việc sử dụng tác nhân lạnh, thì không được sử dụng.
Những kiện hàng chứa chất thải lỏng nguy hại (ngoại trừ chất thải lỏng dễ cháy) đựng trong các bao bì có dung tích nhỏ hơn 120 ml hoặc chất truyền nhiễm phải được sắp xếp sao cho phần nắp bao bì phải hướng lên phía trên và phải dùng nhãn chỉ hướng biểu thị thẳng đứng của bao bì. Kiện hàng phải có đủ chỗ trống để dán nhãn và những dấu hiệu theo quy định.
Việc dán nhãn trên các thùng chứa và sử dụng biển báo trên phương tiện vận chuyển có ý nghĩa rất quan trọng. Thực hiện tốt công tác này sẽ giúp tránh được các sự cố trong quá trình bốc dỡ, sắp xếp chất thải trong kho lưu giữ, vận chuyển và giúp cho việc lựa chọn biện pháp ứng cứu thích hợp khi có sự cố xảy ra. Việc dán nhãn CTNH là trách nhiệm của chủ nguồn thải CTNH. Các thiết bị, bao bì được sử dụng để chứa, lưu giữ, vận chuyển CTNH phải được dán nhãn hiệu cảnh báo có chữ “Chất thải nguy hại”. CTNH phải được làm rõ thuộc loại CTNH nào. Phần quan trọng của việc dán nhãn cảnh báo CTNH là thời gian bắt đầu tích luỹ, chứa CTNH. Về nguyên tắc, chủ nguồn thải CTNH không được phép lưu giữ CTNH quá 06 tháng, nếu chưa được phép. Do đó việc ghi ngày bắt đầu lưu giữ CTNH được sử dụng để xác định và kiểm soát quá trình lưu giữ có đúng quy định không.
Nhãn CTNH gồm các thông tin sau: Tên CTNH, mã CTNH; Tên và địa chỉ của chủ nguồn thải; Các tính chất nguy hại hoặc nguy cơ do chất thải có thể gây ra; Dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6707-2009 về “Chất thải nguy hại - Dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa”; Ngày bắt đầu được đóng gói, bảo quản.
Dấu hiệu cảnh báo CTNH gồm hình tam giác đều, viền đen, nền tam giác màu vàng với các biểu tượng màu đen và chữ (nếu có) màu đen được kết hợp sử dụng.



Khi dán nhãn hay treo biển báo CTNH cần tuân thủ các qui định sau: Mọi CTNH phải được dán dấu hiệu cảnh báo. Các nhãn cảnh báo CTNH phải có hình dạng, màu sắc, ký hiệu và chữ viết theo đúng quy định. Kích cỡ tối thiểu của các nhãn là 10 cm x 10 cm, khoảng cách xa 01 m có thể nhìn thấy được. Vật liệu làm nhãn và mực in trên nhãn phải bền trong điều kiện vận chuyển thông thường và bảo đảm còn rõ ràng dễ nhận ra bất kỳ lúc nào. Một CTNH có nhiều đặc tính nguy hại thì phải dán đầy đủ các nhãn hiệu cảnh báo cho từng loại đặc tính nguy hại đó.
Ví dụ : Dầu động cơ, hộp số và bôi trơn tổng hợp thải có các tính chất nguy hại là có độc tính (Đ), độc tính sinh thái (ĐS) và dể cháy (C) nên phải dán 03 nhãn cảnh báo nguy hại vào bao bì lưu trữ (Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường).
Mọi nhãn cảnh báo phải được in hoặc dán chắc chắn trên bao bì dễ nhận biết, rõ ràng và không bị che khuất bởi bất kì phần nào trên bao bì hay bị che bởi nhãn khác. Các nhãn không được gấp nếp hay không được dán theo cách mà các phần của nhãn nằm trên các phần khác nhau của bao bì lưu giữ. Nếu bề mặt bao bì không đủ chỗ thì phải chấp nhận dùng móc gắn kèm nhãn lên bao bì.
Khu vực lưu giữ CTNH cần được xác định rõ vị trí tách biệt với nơi sản xuất và phải gắn bảng ghi rõ là Khu vực lưu giữ chất thải nguy hại.
Nơi lưu giữ CTNH phải đảm bảo các nguyên tắc: Có mái che hoặc có tấm bạc che phủ kín lên trên CTNH đã lưu giữ trong các thùng chứa an toàn để tránh ảnh hưởng do mưa, nắng khi tiếp xúc trực tiếp. Tường hoặc rào lưới bảo vệ xung quanh. Có đường thoát nước riêng để tránh rò rỉ CTNH vào đường thoát nước chung. Đặt trên các pallet đảm bảo không tiếp xúc trực tiếp với mặt đất. Trang bị vật liệu thấm hút để sử dụng nếu có sự cố chảy tràn CTNH. Trang bị dụng cụ PCCC.
Bố trí sắp đặt tại nơi lưu giữ: Tách biệt các loại CTNH theo dạng rắn, lỏng, bùn trong các bao bì phù hợp và trên các bao bì phải dán các biển báo CTNH theo đúng qui định. Có thùng chứa bổ sung bên ngoài cho thùng chứa chất thải dạng lỏng. Trang bị bảo hộ lao động đầy đủ, phù hợp và nên để nơi thông thoáng.
Mai Hanh



17/11/2010 12:00 SAĐã ban hành
Chương trình hành động số 29 của tỉnh Ủy về thực hiện Nghị quyết số 24 của Ban chấp hành TW ĐảngChương trình hành động số 29 của tỉnh Ủy về thực hiện Nghị quyết số 24 của Ban chấp hành TW Đảng
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

​Tải nội dung 1. CHUONG TRINH HANH DONG.PDF

09/01/2017 8:00 SAĐã ban hành
Quy hoạch khai thác sử dụng tài nguyên biển: Định kỳ 5 năm phải điều chỉnhQuy hoạch khai thác sử dụng tài nguyên biển: Định kỳ 5 năm phải điều chỉnh
Ngày 6-3, Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2009/NĐ-CP về việc quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo.



Nghị định nêu rõ, Quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo trên nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất, hệ thống và phù hợp với đặc điểm, vị trí địa lý, quy luật tự nhiên của các vùng biển, vùng ven biển và hải đảo; Hạn chế tác động có hại, đồng thời bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, bảo đảm sử dụng bền vững tài nguyên biển và thúc đẩy chất lượng môi trường, bảo đảm sử dụng bền vững tài nguyên biển và thúc đẩy sự phát triển kinh tế biển và hải đảo.
Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu và khả năng khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép theo quy định của pháp luật; việc cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo phải căn cứ vào quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo, quy hoạch chuyên ngành đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Quy hoạch được lập cho giai đoạn 10 năm và định hướng cho giai đoạn 20 năm tiếp theo. Định kỳ 5 năm phải đánh giá, điều chỉnh cho phù hợp.
Về biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, kiểm soát ô nhiễm biển, hải đảo, Chính phủ quy định các chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh trên hải đảo, chủ phương tiện nổi trên biển có trách nhiệm báo cáo về chất thải và phương án xử lý chất thải cho cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường; nước thải từ các dàn khoan thăm dò và khai thác dầu khí, phương tiện nổi, nước dằn tàu của các tổ chức, cá nhân hoạt động tại các vùng biển của Việt Nam chỉ được phép xả ra biển sau khi đã xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường... Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì tổ chức nghiên cứu, điều tra, đánh giá tình trạng ô nhiễm biển, hải đảo và xác định các vùng ô nhiễm nghiêm trọng; tiến hành xử lý, khắc phục hậu quả ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường biển, hải đảo; ban hành các quy định về quản lý chất thải và kiểm soát ô nhiễm biển, hải đảo; chỉ đạo và hướng dẫn UBND các tỉnh ven biển thực hiện các quy định về quản lý chất thải và kiểm soát ô nhiễm biển, hải đảo.

Theo www.monre.gov.vn



19/03/2009 12:00 SAĐã ban hành
Thông tư số 332/2016/TT-BTC ngày 26 tháng 12 năm 2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 76/2014/TT-BTC  về thu tiền sử dụng đấtThông tư số 332/2016/TT-BTC ngày 26 tháng 12 năm 2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 76/2014/TT-BTC  về thu tiền sử dụng đất
Ngày 26 tháng 12 năm 2016, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 32/2016/TT-BTC ngày 26 tháng 12 năm 2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 76/2014/TT-BTC về thu tiền sử dụng đất, có hiệu lực ngày 10 tháng 02 năm 2017.

​       Ngày 26 tháng 12 năm 2016, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 32/2016/TT-BTC ngày 26 tháng 12 năm 2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 76/2014/TT-BTC về thu tiền sử dụng đất, có hiệu lực ngày 10 tháng 02 năm 2017.

       Theo đó, Thông tư đã sửa đổi, bổ sung một số nội dung chủ yếu như sau:

        - Quy định chi tiết các khoản tiền phải nộp liên quan đến việc gia hạn quyền sử dụng đất;

       - Bổ sung việc xác định giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất;

       - Quy định chi tiết việc phân bổ chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng của phần diện tích sử dụng vào mục đích công cộng được giao đất không thu tiền sử dụng đất vào các phần diện tích đất tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo tỷ lệ diện tích của từng phần trong tổng diện tích phải thực hiện nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất để thực hiện khấu trừ theo quy định.

      - Quy định cụ thể việc giảm tiền sử dụng đất đối với đất thực hiện dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng;

       - Hướng dẫn việc trừ tiền bồi thường về đất đối với các trường hợp người được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 hoặc được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm sau ngày 01 tháng 7 năm 2004, đã chi trả tiền đền bù, giải phóng mặt bằng theo phương án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (bao gồm cả trường hợp tự thỏa thuận bồi thường hoặc tự nhận chuyển nhượng) theo quy định của pháp luật trước ngày 01 tháng 7 năm 2004; khi thực hiện chuyển sang giao đất có thu tiền sử dụng đất từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về sau nhưng đến nay chưa hoàn thành nghĩa vụ về thu tiền sử dụng đất./.

N.K.Phương

Tải nội dung Thông tư: TT 332_2016_TT-BTC_sua doi, bo sung (TT 76).doc

20/02/2017 3:15 CHĐã ban hành
Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP và sửa đổi, bổ sung một số điều của 07 Thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đaiThông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP và sửa đổi, bổ sung một số điều của 07 Thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai
Ngày 29 tháng 9 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai

            Ngày 29 tháng 9 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai. Thông tư quy định chi tiết các nội dung cụ thể như sau:

              Thứ nhất, Thông tư quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai.

           Trong đó, hướng dẫn cụ thể việc xác nhận hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; việc sử dụng đất trong dự án sản xuất, kinh doanh theo phương thức thỏa thuận mua tài sản gắn liền với đất, nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn; việc thực hiện các dịch vụ của Văn phòng Đăng ký đất đai;…

            Thứ hai, Thông tư quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của 07 thông tư cụ thể sau:

           1) Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

            Trong đó, sửa đổi, bổ sung một số nội dung như: xây dựng quy định về yếu tố chống giả trên phôi Giấy chứng nhận; thể hiện thông tin trên Giấy chứng nhận đối với trường hợp chứng nhận quyền sở hữu công trình trên đất nông nghiệp; hướng dẫn cách ghi trên Giấy chứng nhận đối với trường hợp Văn phòng Đăng ký đất đai và Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai được ủy quyền ký cấp Giấy chứng nhận….

            2) Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 quy định về hồ sơ địa chính;

           Trong đó, sửa đổi, bổ sung một số nội dung như: quy định hướng dẫn về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích tăng thêm so với giấy tờ về quyền sử dụng đất; về đăng ký quyền sử dụng đất cho tổ chức mua bán nợ theo quy định tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội; về từ chối hồ sơ đề nghị đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;…

          3) Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 quy định về bản đồ địa chính;

          Trong đó hướng dẫn xử lý, giải quyết cụ thể đối các trường hợp đo đạc mà người sử dụng đất vắng mặt hoặc người sử dụng đất nhận Bản mô tả ranh giới, mốc giới mà không ký xác nhận…

          4) Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất;

           Trong đó, hướng dẫn hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ và đất rừng đặc dụng để thực hiện dự án đầu tư; Hồ sơ điều chỉnh quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đã ban hành trước ngày 01 tháng 7 năm 2004;…

        5) Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 quy định chi tiết phương pháp định giá đất, xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất, định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất;

      Trong đó, sửa đổi, bổ sung về phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất đã được quy định tại Điều 7 của Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT;…

     6) Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

       Trong đó, sửa đổi, bổ sung việc xác định diện tích đất nông nghiệp để tính hỗ trợ ổn định đời sống khi Nhà nước thu hồi đất; Giá đất làm căn cứ tính hỗ trợ cho người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước nằm trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ; Bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng;…

        7) Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27 tháng 01 năm 2015 quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ.

        Trong đó, sửa đổi, bổ sung các trường hợp chuyển mục đích không phải xin phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Việc sử dụng đất đối với trường hợp chuyển đổi công ty, chuyển doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn;…

        Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 12 năm 2017, bãi bỏ Điều 23 của Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT, Điều 12 và Điều 14 của Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT./.

Nguyễn Khắc Phương

TT_33_2017_TT-BTNMT_HD_(ND01).pdf

15/11/2017 9:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nh​iệm chính: Ông Nguyễn Văn Chinh - Chức vụ: Giám đốc Sở TN và MT | Giấy phép số: 139/GP - BC, ngày 16 tháng 4 năm 2007
Địa chỉ trụ sở: Số 01 - Trần Quốc Tuấn - Phường 2 - Thành phố Bến Tre - Tỉnh Bến Tre
Điện thoại: 075.3822210 - 075.211494 - Fax: 075.813176