Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Tài nguyên đất đai
 
Báo cáo đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai ở địa phương 
 
Gói thầu: Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre và Công bố, công khai kết quả Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre 
 
Góp ý Dự thảo quyết định thu hồi đất đối với trường hợp bên thuê đất, thuê lại đất trong khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp, làng nghề không đưa đất vào sử dụng, chậm đưa đất vào sử dụng 
 
Ngày 30 tháng 01 năm 2018, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 10/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16 tháng 6 năm 2014 Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất và Thông tư số 11/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước 
 
Góp ý dự thảo Quyết định ban hành quy định hạn mức đất và chế độ quản lý việc xây dựng phần mộ, tượng đài, bia tưởng niệm trong nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn tỉnh Bến Tre của Ủy ban nhân dân tỉnh 
 
Thực hiện theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ và Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 9 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về công tác lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử đụng đất hàng năm của cấp huyện. 
 
Ngày 14 tháng 11 năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 123/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước. 
 
Gói thầu: Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre và Công bố, công khai kết quả Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre 
 
Thông tư 53/2017/TT-BTNMT quy định ngưng hiệu lực thi hành Khoản 5 Điều 6 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT 
 
Thông báo mời thầu - Gói thầu: Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre và Công bố, công khai kết quả Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Phiên họp thứ 20 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Làm rõ trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên và môi trườngPhiên họp thứ 20 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Làm rõ trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên và môi trường
Tiếp tục chương trình chất vấn tại phiên họp thứ 20 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chiều 20/8, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang đã trả lời chất vấn về trách nhiệm quản lý nhà nước trong khai thác tài nguyên, khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường; kết quả triển khai việc giao và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tình trạng sử dụng đất lãng phí; việc xử lý tồn đọng khiếu nại, tố cáo về đất đai. Phiên họp chất vấn được phát thanh, truyền hình trực tiếp; đồng thời kết nối truyền hình trực tuyến với 63 Đoàn đại biểu Quốc hội.



* Đẩy nhanh tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang cho biết: Thời gian qua, phần lớn các địa phương đã tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 05/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác cấp Giấy chứng nhận ở địa phương. Trong điều kiện kinh tế có nhiều khó khăn; song các địa phương đều đã rất cố gắng bố trí kinh phí từ ngân sách cho công tác cấp Giấy chứng nhận, số lượng Giấy chứng nhận được cấp tăng lên nhiều so với các năm trước. Tuy nhiên kết quả cấp Giấy chứng nhận của cả nước trong 6 tháng qua vẫn còn thấp, chỉ bằng đạt 21,6% về diện tích so với kế hoạch thực hiện năm 2013. Bộ đang quyết tâm hoàn thành cơ bản chỉ tiêu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đạt 85% diện tích vào cuối năm 2013. Tuy nhiên, để đạt được chỉ tiêu này đòi hỏi sự chỉ đạo quyết liệt hơn nữa của các Bộ, ngành, địa phương, sự hỗ trợ của Quốc hội, Chính phủ về nguồn lực đối với các tỉnh có tỷ lệ cấp Giấy chứng nhận còn thấp và có nguồn thu ngân sách thấp, nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc.

Trả lời câu hỏi của đại biểu Tôn Thị Ngọc Hạnh, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắc Nông về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đồng bào di cư tự do, Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang cho biết: Vấn đề do điều kiện đất đai để sản xuất hết sức khó khăn, một số đồng bào phía Bắc đã di cư vào các tỉnh Tây Nguyên, chủ yếu là Đắc Lắc và Đắc Nông, đã sinh sống ổn định từ nhiều năm nay. Vấn đề này Bộ đã bàn và xin ý kiến về chủ trương của Chính phủ. Về mặt quan điểm, cần phải tạo điều kiện để đồng bào sinh sống ổn định, nhưng đồng thời cũng cần có những quy định chặt chẽ để ngăn chặn làn sóng di cư tự do, việc di cư phải theo chủ trương, kế hoạch. Đồng bào di cư sinh sống, làm việc ở đất nông lâm trường đã ổn định sẽ được cấp Giấy chứng nhận. Riêng diện tích đất liên quan đến rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, Bộ đang xin Chính phủ cho ý kiến điều chỉnh, việc này cần phải bàn kỹ hơn.

Về vấn đề giải quyết khiếu nại tố cáo trong lĩnh vực đất đai được các đại biểu đề cập, Bộ trưởng cho biết: Trong 528 vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, tồn đọng, kéo dài, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã rà soát, giải quyết 28 vụ việc trong đó có 10 vụ việc do Bộ tự rà soát, tổng hợp. Kết quả có 17 vụ việc qua rà soát đã giải quyết đúng pháp luật, 8 vụ việc địa phương phải giải quyết lại. Ngoài các vụ việc đã rà soát nằm trong 528 vụ việc trên, Bộ đã rà soát và làm việc thống nhất giải quyết 49 vụ việc tồn đọng, kéo dài.

Giải trình thêm các nội dung liên quan, Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh cho biết hiện còn 63 vụ khiếu nại tồn đọng kéo dài liên quan đến đất đai đang tiếp tục được giải quyết. Song song với giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai, chính quyền địa phương cũng đã xem xét khôi phục quyền lợi cho dân, dùng ngân sách hỗ trợ cho các hộ khó khăn và sửa sai đối với những trường hợp giải quyết không đúng. Các địa phương đã khôi phục quyền công dân với số tiền 1.388 tỷ đồng, 34ha đất, 24 nền nhà tái định cư. Tổng Thanh tra Chính phủ kiến nghị Quốc hội và các cấp, các ngành ngoài chuẩn bị sửa đổi Luật Đất đai cần điều chỉnh cơ chế chính sách liên quan, vì đây chính là nguyên nhân dân dẫn đến khiếu nại đông người. Bên cạnh đó, nâng cao trách nhiệm của hệ thống chính trị, trách nhiệm trong công tác tiếp công dân, các Ủy ban của Quốc hội và các đoàn đại biểu Quốc hội tại các địa phương cùng phối hợp để có tiếng nói chung trong giải quyết khiếu nại tố cáo.

* Siết chặt việc cấp phép khai thác khoáng sản

Trả lời câu hỏi của đại biểu Danh Út, liên quan đến vấn đề quản lý khai thác khoáng sản, Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang cho biết: Sau khi Luật Đất đai có hiệu lực thi hành, mặc dù công tác quản lý cấp phép thăm dò khai thác khoáng sản có chuyển biến tích cực, song tình hình còn phức tạp. Năm 2013, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm tra tình hình cấp phép hoạt động khai thác khoáng sản của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, Bộ đã thành lập 8 đoàn kiểm tra để rà soát toàn bộ hồ sơ, qua đó phát hiện 957 giấy phép cấp sai. Kết quả kiểm tra cho thấy các địa phương đã cấp giấy phép không đúng thẩm quyền: 103 giấy phép; cấp phép khi chưa có quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt: 37 giấy phép; cấp phép khi không có đăng ký kinh doanh ngành nghề về thăm dò, khai thác khoáng sản: 52 giấy phép; cấp phép thăm dò không thông qua hình thức lựa chọn tổ chức, cá nhân ở khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản: 128 giấy phép...

Sau khi kiểm tra, Bộ đã báo cáo và Chính phủ đã có ý kiến đối với một số tỉnh, qua đó, yêu cầu các tỉnh tuân thủ các quy định pháp luật trong cấp phép. Chính phủ đề nghị 9 tỉnh thu hồi giấy phép cấp không đúng quy định; 10 tỉnh xem xét bổ sung điều chỉnh quy hoạch; 11 tỉnh tạm đình chỉ cấp giấy phép đối với những khu vực chưa có kết quả thăm dò, phê duyệt trữ lượng khoáng sản. Chính phủ yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh có vi phạm đến ngày 30/11/2013 phải báo cáo tình hình.

Liên quan đến cấp phép khai thác vàng, cát sỏi buôn lậu ra bên ngoài như kiến nghị của đại biểu Danh Út, Bộ trưởng thừa nhận thời gian một số tỉnh có xảy ra tình trạng vi phạm trong quản lý, khai thác khoáng sản mà chủ yếu là khai thác vàng sa khoáng và cát sỏi. Hoạt động khai thác này chủ yếu diễn ra ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Nguyên nhân do đời sống đồng bào còn nhiều khó khăn, thiếu việc làm nên hoạt động khai thác khoáng sản trái phép quy mô nhỏ khá phổ biến. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về khoáng sản chưa thường xuyên, chưa sâu rộng; nhận thức của địa phương và người dân trong bảo vệ khoáng sản chưa đầy đủ…

Từ thực trạng trên, Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang đề nghị các tỉnh tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức để bà con thấy tác hại của việc khai thác trái phép khoáng sản. Khẳng định trong 957 giấy phép cấp sai chủ yếu trách nhiệm thuộc về các địa phương, Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang đề nghị các địa phương khẩn trương rút kinh nghiệm, có giải pháp chấn chỉnh kịp thời.

Cũng liên quan đến vấn đề quản lý, khai thác khoáng sản trái phép ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường và đời sống người dân, gây lãng phí thất thoát tài nguyên quốc gia, trả lời băn khoăn của đại biểu Đinh Công Sỹ (Sơn La), Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang thẳng thắn thừa nhận: Sau khi Luật Khoáng sản ra đời năm 2010, Bộ đã tập trung xây dựng văn bản hướng dẫn như các nghị định, thông tư, nhưng đến nay vẫn chưa xong, điều này có ảnh hưởng lớn đến hoạt động cấp phép, khai thác khoáng sản ở các địa phương. Bộ đã tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra, nhưng chưa thường xuyên để xảy ra tình trạng cấp phép sai, hoạt động khai thác khoáng sản trái phép xảy ra nhiều. Thời gian tới, Bộ sẽ có nhiều giải pháp quyết liệt hơn, tuy nhiên cũng cần có sự vào cuộc của Ủy ban nhân dân các tỉnh. Bộ trưởng đề nghị Thủ tướng có ý kiến nhắc nhở các tỉnh tăng cường hơn nữa công tác kiểm soát hoạt động cấp phép khai thác khoáng sản tại địa phương.

* Tiến tới sử dụng phương tiện hiện đại để theo dõi, giám sát các nguồn thải

Nhận định quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường thời gian qua còn lỏng lẻo, tình trạng ô nhiễm môi trường do xả thải của các doanh nghiệp ngày càng nghiêm trọng, nhiều đại biểu đã chất vấn Bộ trưởng về trách nhiệm của Bộ Tài nguyên Môi trường. Về vấn đề này, Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang khẳng định: Không phải các địa phương đều có sự đồng thuận, nhiều nơi mong đất giá rẻ, nhân công giá rẻ, “nương tay” trong quản lý bảo vệ môi trường để thu hút đầu tư.

Bộ trưởng khẳng định bảo vệ môi trường là vấn đề hết sức nan giải, đòi hỏi sự quan tâm của toàn xã hội, liên quan đến ý thức của các doanh nghiệp bởi việc đầu tư xây dựng, vận hành hệ thống xử lý chất thải, nước thải rất tốn kém. Nếu lực lượng cảnh sát môi trường, thanh tra tài nguyên môi trường không kiểm tra thường xuyên, các doanh nghiệp sẵn sàng xả thải ra ngoài môi trường, để bắt quả tang là không dễ. Theo Bộ trưởng, phải thường xuyên thanh tra, kiểm tra thường xuyên, trông chờ vào ý thức tự giác của doanh nghiệp là rất khó, phải có thái độ xử lý kiên quyết, tiến tới sử dụng hệ thống trạm quan trắc tự động và camera theo dõi, giám sát các nguồn thải 24/24h như tỉnh Bình Dương đã thực hiện.

Đánh giá phần trả lời của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho rằng Bộ trưởng đã trả lời thẳng thắn các câu hỏi của đại biểu, nhận trách nhiệm về những hạn chế tồn tại của ngành tài nguyên môi trường nói chung, của Bộ nói riêng.

Kết luận toàn bộ nội dung trả lời chất vấn của hai Bộ trưởng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đề nghị Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hoàn thiện hệ thống pháp luật trong hai lĩnh vực này, ban hành quy định tăng cường thanh tra, kiểm tra việc hướng dẫn tổ chức, xây dựng pháp luật, tình hình nợ đọng, phát hiện, xử lý nghiêm những trường hợp sai phạm. Chủ tịch chỉ đạo các cơ quan phải cùng vào cuộc, các đoàn đại biểu Quốc hội các địa phương phải tăng cường giám sát, công tác quản lý nhà nước phải nghiêm hơn nữa.

Chủ tịch Quốc hội nhận định công tác quản lý tài nguyên khoáng sản, môi trường, đất đai, xử lý khiếu nại tố cáo là vấn đề nóng bỏng, việc thất thoát, lãng phí sử dụng không hiệu quả, quản lý không chặt chẽ, vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực này khiến dư luận nhức nhối, Quốc hội lo lắng. Qua phiên chất vấn, các cấp, các ngành thấy được tồn tại để khắc phục. Sự bổ sung lẫn nhau giữa các Bộ trưởng đã hình thành các giải pháp để chúng ta quyết tâm thực hiện trong thời gian tới.

Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng hy vọng qua chất vấn sẽ tạo bước chuyển biến tích cực về chương trình xây dựng pháp luật, để đến hết năm 2013 về cơ bản giải quyết xong tình trạng nợ văn bản hướng dẫn, đồng thời với đó tăng cường quản lý đất đai, sửa đổi Luật Đất đai cho phù hợp với thực tiễn. Sau chất vấn, Văn phòng Quốc hội sẽ ban hành văn bản kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tạo cơ sở cho việc thực thi các nhiệm vụ liên quan.



22/08/2013 12:00 SAĐã ban hành
Kế hoạch tổ chức hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2014Kế hoạch tổ chức hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2014
     Năm 2014 được Liên hiệp quốc chọn là Năm Quốc tế các tiểu quốc đảo đang phát triển. Chủ đề Ngày Môi trường thế giới 05 tháng 6 năm 2014 là <b>“Hãy hành động để ngăn nước biển dâng”</b> nhằm nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu đối với các khu vực dễ bị tổn thương như hải đảo và các khu vực ven biển. Bên cạnh đó, Ngày Đại dương thế giới 08 tháng 6 năm 2014 với chủ đề “Cùng chung tay - Chúng ta có sức mạnh bảo vệ đại dương” muốn nhấn mạnh vai trò cực kỳ quan trọng của biển và đại dương trong cuộc sống của chúng ta và tầm quan trọng của cộng đồng trong việc bảo vệ các nguồn tài nguyên từ biển và đại dương.



     Tại Việt Nam, để hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới và Ngày Đại dương thế giới, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các đơn vị tổ chức các hoạt động cấp quốc gia hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới (từ 04 - 05/6/2014) tại TP. Hồ Chí Minh và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam (từ 01-08/6/2014) tại TP. Hải Phòng với chủ đề “Chung tay bảo vệ Đại dương xanh”, các hoạt động chính là lễ míttinh quốc gia, trồng cây, triển lãm tranh về bảo vệ môi trường; ra quân làm sạch bãi biển, khu sinh thái biển; xây dựng ý thức bảo tồn đa dạng sinh học biển; tuyên truyền về vị trí chiến lược cũng như tầm quan trọng của biển, hải đảo đến sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; …
     Để thiết thực hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 2163/KH-UBND ngày 19/5/2014 về tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2014 đề nghị các sở, ban, ngành, đoàn thể, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố chủ động hưởng ứng và triển khai thực hiện với các hoạt động như: Tổ chức và đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, vận động, giáo dục cán bộ và người dân nâng cao nhận thức ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường; đặc biệt tuyên truyền về biển và hải đảo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của các cấp, ngành và tầng lớp nhân dân về vị trí chiến lược cũng như tầm quan trọng của biển và hải đảo; biểu dương, khen thưởng những tổ chức, cá nhân, có nhiều thành tích trong công tác bảo vệ môi trường;…
     Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì xây dựng kế hoạch tổ chức hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam quy mô cấp tỉnh tại xã Tân Thủy và An Hòa Tây, huyện Ba Tri.
     Với những hoạt động thiết thực, hy vọng đây sẽ là cơ hội để cán bộ và nhân dân trong tỉnh tích cực tham gia hưởng ứng cùng chung tay bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.


26/05/2014 12:00 SAĐã ban hành
Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 23/5 đến ngày 30/5/2017)Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 23/5 đến ngày 30/5/2017)
Bản tin dự báo độ mặn từ ngày 23 tháng 5 đến ngày 30 tháng 5 năm 2017 (Tuần 21/2017)

I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 16 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 23/05/2017 (TUẦN 20/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế giảm nhẹ dần từ ngày 16 đến ngày 18, sau đó tăng dần từ ngày 19 đến 23.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 20 đến 23 ở tương đương so với tuần trước và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 18.7 ‰  ngày 19.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 5.2 ‰  ngày 20.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 3.1 ‰  ngày 22.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 0.2 ‰ ngày 18-21.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): 0.1 ‰ (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): 18.5 ‰  ngày 20.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): 4.8 ‰  ngày 20.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 7.5 ‰ ngày 22.

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): 5.1 ‰ ngày 22.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): 0.2 ‰ ngày 21.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): 0.1 ‰  ngày 16-23.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰..

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): 17.4 ‰  ngày 18.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mõ Cày Nam): 2.3 ‰  ngày 20.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): 2.9 ‰ ngày 23.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): 0.2 ‰ ngày 21-23.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Long Định (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 36-38km).

- Sông Hàm Luông: xã Phước Long (huyện Giồng Trôm) – Phước Hiệp (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36-38km).

- Sông Cổ Chiên: xã Hương Mỹ-Cẩm Sơn (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 30-32km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 44-46km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An (Tp. Bến Tre) – Tân Thành Bình (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 44-46km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới A-Thành Thới B (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 23 ĐẾN NGÀY 30/05/2017 (TUẦN 21/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế tiếp tục tăng dần từ ngày 23 đến 26, rồi giảm dần từ ngày 28 đến 30.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày từ 24 đến 27 ở mức sâu hơn so với tuần qua và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  20.0 ‰ đến 23.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  7.0 ‰ đến 10.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  3.0 ‰ đến 5.0 ‰.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax 0.2 ‰ đến 1.0 ‰.

+ Tại Long Hoà (xã Long Hoà – huyện Bình Đại): Smax 0.2 ‰ đến 1.0 ‰. (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): Smax từ 20.0  ‰ đến 23.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ  7.0 ‰ đến 10.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): Smax từ 7.0 ‰ đến 10.0 ‰ (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 5.0 ‰ đến 8.0 ‰.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mõ Cày Bắc): Smax 0.5 ‰ đến 2.0 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): Smax 0.2 ‰ đến 1.5 ‰.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân – huyện Mõ Cày Bắc): Smax 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp – huyện Châu Thành): Smax 0.2 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.1 ‰..

+ Tại Hòa Nghĩa (xã Hòa Nghĩa - huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): Smax từ  20.0 ‰ đến 23.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 6.0 ‰ đến 9.0‰.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ  3.0 ‰ đến 5.0 ‰.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 0.2 ‰ đến 2.0 ‰.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân): Smax 0.2 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giao Hòa (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

- Sông Hàm Luông: xã Sơn Phú (huyện Giồng Trôm) – Định Thủy (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36-38km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 46-48km).

- Sông Hàm Luông: xã Bình Phú (Tp. Bến Tre), (cách cửa sông khoảng 48-50km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới B (huyện Mõ Cày Nam) – Khánh Thạnh Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 46-48km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này:

Sông Cửa Đại: cấp độ 1.

Sông Hàm Luông:cấp độ 1.

Sông Cổ Chiên: cấp độ 1.

tuan21.png

Ban_tin_man_02_5 (Tuan_21_2017).png

26/05/2017 5:00 CHĐã ban hành
Nội dung cơ bản của Nghị định hướng dẫn thi hành  Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảoNội dung cơ bản của Nghị định hướng dẫn thi hành  Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
Từ ngày 01/7/2016, Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo có hiệu lực. Đây là thời điểm đánh dấu lần đầu tiên “luật hóa” quy định về phương thức quản lý mới trên biển là “quản lý tổng hợp” và nó được kỳ vọng sẽ đem lại hiệu quả trong sử dụng tài nguyên và quản lý môi trưởng biển, đảo.

         Để thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015, ngày 15/5/2016 Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 40/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (gọi tắt là Nghị định thi hành Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo). Nghị định thi hành Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo gồm 10 Chương với 71 Điều; phạm vi điều chỉnh các Điều 11, Điều 14, Điều 22, Điều 23, Điều 25, Điều 29, Điều 36; khoản 1 Điều 40; khoản 3 Điều 54; khoản 2 Điều 58; khoản 4 Điều 60 và khoản 3 Điều 76 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.

Huong_dan_Luat_TNMT_bien_2017.jpg

Một góc bờ biển Thạnh Phú, Bến Tre

Nội dung Nghị định thi hành Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo gồm: (01) Lập, thẩm định, phê duyệt và thực hiện chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; (02) Phạm vi vùng bờ; lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ; (03) Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; (04) Hành lang bảo vệ bờ biển; hạn chế các hoạt động trong hành lang bảo vệ bờ biển; (05) Phân loại các hải đảo; (06) Xác định và thông báo về khu vực hạn chế hoạt động để ưu tiên cho hoạt động cứu hộ, cứu nạn, ứng phó sự cố (07) Cấp, cấp lại, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, cho phép trả lại, thu hồi giấy phép nhận chìm ở biển; danh mục vật, chất được nhận chìm ở biển; (08) Cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; (09) Điều khoản thi hành.

Theo đó, nội dung của Nghị định quy định Phạm vi vùng bờ: bao gồm vùng biển ven bờ và vùng đất ven biển; vùng biển ven bờ có ranh giới trong là đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm (18,6 năm) và ranh giới ngoài cách đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm một khoảng cách 06 hải lý do Bộ Tài nguyên và Môi trường xác định và công bố; quy định việc lập, xác định các khu vực phải thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển; lấy ý kiến, phê duyệt Danh mục các khu vực biển phải thiết lập ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển; công bố, cắm mốc giới hành lang bảo vệ bờ biển…tại Chương V của Nghị định về Hành lang bảo vệ bờ biển, hạn chế các hoạt động trong hành lang bảo vệ bờ biển.

          Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và các văn bản hướng dẫn thi hành ra đời) nhằm thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, từng bước hoàn thiện pháp luật để quản lý tài nguyên biển và hải đảo bảo đảm tài nguyên biển và hải đảo được khai thác, sử dụng hiệu quả, duy trì chức năng và cấu trúc của hệ sinh thái nhằm phát triển bền vững, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam trên biển. Đồng thời là hành lang pháp lý quan trọng tạo bước đột phá trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo, góp phần sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, thực hiện thắng lợi Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020./.

Vĩnh Thịnh

28/11/2017 10:00 SAĐã ban hành
Hoàn thành công tác tổ chức thẩm định Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 trên địa bàn tỉnh Bến TreHoàn thành công tác tổ chức thẩm định Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Thực hiện theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ và Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 9 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về công tác lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử đụng đất hàng năm của cấp huyện.

Thực hiện theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ và Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 9 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về công tác lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử đụng đất hàng năm của cấp huyện.

Đến ngày 19 tháng 12 năm 2017, Sở Tài nguyên và Môi trường đã hoàn thành công tác tổ chức thẩm định Kế hoạch sử dụng đất hàng năm (năm 2018) của các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Qua Hội nghị thẩm định Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện, Hội đồng thẩm định đã góp ý, phân tích các nội dung liên quan đến việc thực hiện các danh mục, dự án công trình năm 2017, đánh giá các nội dung đạt được và chưa được để làm cơ sở cho công tác thực hiện Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 của cấp huyện đạt được theo kế hoạch đề ra. Đồng thời phân tích diện tích ghi trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được công bố phải thu hồi đất để thực hiện dự án hoặc chuyển mục đích sử dụng đất mà sau 03 năm (từ năm 2015 đến năm 2017) chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện việc điều chỉnh, hủy bỏ theo quy định.

Theo Kế hoạch thực hiện của Sở Tài nguyên và Môi trường, sẽ sớm trình UBND tỉnh Bến Tre phê duyệt đảm bảo thời gian triển khai, thực hiện Kế hoạch sử dụng đất trong năm 2018./.

Một số hình ảnh của Hội nghị thẩm định Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 của các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Bến Tre

(Ảnh: Khắc Phương)
khsdd2018_1.jpg

khsdd2018_2.jpg 

khsdd2018_3.jpg 

Nguyễn Khắc Phương - Chi cục Quản lý đất đai

28/12/2017 3:00 CHĐã ban hành
Công văn 2399/STNMT-CCBVMT Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan cảng nhập Bình Dương và Tịnh BiênCông văn 2399/STNMT-CCBVMT Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan cảng nhập Bình Dương và Tịnh Biên
 Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan

​Tải văn bản: 2399_STNMT_CCBVMT_2018.pdf

07/09/2018 8:00 SAĐã ban hành
Công văn 1402/STNMT-CCQLĐĐ về việc báo cáo đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai ở địa phươngCông văn 1402/STNMT-CCQLĐĐ về việc báo cáo đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai ở địa phương
Báo cáo đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai ở địa phương

​    Để có cơ sở báo cáo Tổng cục Quản lý đất đai đảm bảo chất lượng và thời gian, Sở Tài nguyên và Môi trường gửi đề cương yêu cầu báo cáo theo Công văn số 1678/TCQLĐĐ-CKSQLSDĐ, trong đó Sở đã có trình bày chi tiết các nội dung báo cáo theo chức năng của từng đơn vị, đề nghị các đơn vị quan tâm báo cáo và gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường.

   File gửi theo địa chỉ: nthchau.stnmt@bentre.gov.vn

   Thời gian báo cáo định kỳ hàng năm: Báo cáo 6 tháng gửi trước ngày 10/6 và báo cáo năm gửi trước ngày 10/11.

Tải nội dung: CV_1402_STNMT_CCQLDD.7z


04/06/2018 10:00 SAĐã ban hành
Thông báo về việc góp ý dự thảo văn bảnThông báo về việc góp ý dự thảo văn bản
Góp ý Quy chế Phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo tỉnh Bến Tre

I. Nội dung

   Sở Tài nguyên và Môi trường đã Dự thảo Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

   Để hoàn chỉnh Dự thảo Quy chế và có cơ sở trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành, Sở Tài nguyên và Môi trường kính đề nghị quý cơ quan, đơn vị đóng góp ý kiến Dự thảo Quy chế và gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp.

II. Thời gian
    Thời gian góp ý dự thảo văn bản: Từ ngày 08/8/2017 đến ngày 08/9/2017
III. Địa chỉ nhận góp ý
     Các ý kiến đóng góp về nội dung của văn bản trên gửi về Chi cục Biển và Hải đảo - Sở Tài nguyên và Môi trường, có thể bằng văn bản hoặc địa chỉ email (nguyennhan2883@gmail.com).

Tải nội dung văn bản dự thảo:

DuThao_Quy_che_phoi_hop_2017_8_08-UBND.doc

08/08/2017 3:00 SAĐã ban hành
Thông báo mời thầu - Gói thầu: Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre và Công bố, công khai kết quả Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến TreThông báo mời thầu - Gói thầu: Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre và Công bố, công khai kết quả Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre
Gói thầu: Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre và Công bố, công khai kết quả Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre

​Tên bên mời thầu: Chi cục Quản lý đất đai tỉnh Bến Tre

Tên gói thầu: Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre và Công bố, công khai kết quả Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre.

Hình thức lựa chọn nhà thầu: Đấu thầu rộng rãi trong nước.

Phương thức lựa chọn nhà thầu: Một giai đoạn 02 túi hồ sơ.

Thời gian phát hành Hồ sơ mời thầu (HSMT): từ 14 giờ 00 phút, ngày 01 tháng 6 năm 2018 đến trước 14 giờ 30 phút, ngày 21 tháng 6 năm 2018 (trong giờ hành chính).

Địa chỉ: số 01 Trần Quốc Tuấn, Phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Tải nội dung: 57_TB_CCQLDD.pdf

30/05/2018 2:00 CHĐã ban hành
Ngày Nước thế giới 2018 - “Câu trả lời là trong thiên nhiên”Ngày Nước thế giới 2018 - “Câu trả lời là trong thiên nhiên”
“Chúng ta có thể giảm lũ lụt, hạn hán và ô nhiễm nước như thế nào? Bằng cách sử dụng các giải pháp chúng ta tìm thấy trong thiên nhiên”. Đó là thông điệp ngày Nước thế giới năm 2018 mà Ủy ban về nước của Liên hiệp quốc (UN-Water) muốn gửi đến chúng ta.

      "Chúng ta có thể giảm lũ lụt, hạn hán và ô nhiễm nước như thế nào? Bằng cách sử dụng các giải pháp chúng ta tìm thấy trong thiên nhiên". Đó là thông điệp ngày Nước thế giới năm 2018 mà Ủy ban về nước của Liên hiệp quốc (UN-Water) muốn gửi đến chúng ta.

Ngay_nuoc_the_gioi_2018_worldwaterday.png
Nguồn: worldwaterday.org

      Ngày Nước thế giới 22/3 hàng năm tập trung quan tâm vào những vấn đề quan trọng của tài nguyên nước và nước sạch. Năm 2018, UN-Water chọn chủ đề là “Nước với thiên nhiên” với chiến dịch vận động, nâng cao nhận thức trong việc tìm, áp dụng các giải pháp dựa vào tự nhiên trước các thách thức về nước mà chúng ta đối mặt trong thế kỷ 21.


          Giải pháp tiêu biểu dựa vào tự nhiên mà UN-Water đưa ra như:


           -   Trồng cây để bổ sung cho rừng; trồng cây bản địa, cây bụi trong vùng đệm, hành lang bảo vệ dọc theo các dòng nước;

          -    Kết nối lại các dòng sông với vùng ngập lũ và phục hồi đất ngập nước.


           Theo UN-Water, các giải pháp dựa vào tự nhiên có thể giảm đáng kể ô nhiễm, bảo vệ đất khỏi xói mòn. Việc áp dụng giải pháp dựa vào tự nhiên chắc chắn tạo ra "cơ sở hạ tầng xanh", các hệ thống tự nhiên hay bán tự nhiên này mang lại cho chúng ta những lợi ích tương đương hoặc tương tự như cơ sở hạ tầng xám thông thường. Bên cạnh đó, giải pháp dựa vào tự nhiên thường tạo ra lợi ích ngoài các dịch vụ liên quan đến nước, ví dụ đất ngập nước được dùng để xử lý nước thải, cung cấp sinh khối cho sản xuất năng lượng, cải thiện đa dạng sinh học và tạo không gian giải trí, du lịch và việc làm liên quan. Hầu hết giải pháp dựa vào tự nhiên, bao gồm cả cảnh quan đô thị thì chủ yếu liên quan đến việc quản lý thực vật, đất hoặc đất ngập nước, bao gồm sông và hồ. Giải pháp dựa vào tự nhiên không phải là thuốc chữa bách bệnh đối với những thách thức liên quan đến nước mà chúng ta phải đối mặt trong tình trạng gia tăng dân số toàn cầu, nhưng đây là một trong những cách bền vững và tiết kiệm chi phí để giúp cân bằng lại chu trình nước, giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu, cải thiện sức khoẻ và sinh kế con người.

          Các thông tin về hiện trạng và cảnh báo liên quan đến nước trên thế giới cũng được UN-Water đưa ra:

         + Hiện nay, khoảng 2,1 tỷ người không tiếp cận các dịch vụ nước sạch được quản lý an toàn; Đến năm 2050, dân số thế giới sẽ tăng khoảng 2 tỷ người và nhu cầu nước toàn cầu có thể lên đến 30% so với hiện nay;
         + Nông nghiệp hiện chiếm 70% lượng nước sử dụng toàn cầu, chủ yếu là để tưới tiêu; Công nghiệp chiếm 20% trên tổng số, tập trung vào năng lượng và sản xuất; 10% còn lại là nước sử dụng trong sinh hoạt gia đình.
         + Khoảng 1,9 tỷ người sống trong các khu vực có khả năng khan hiếm nước nghiêm trọng. Đến năm 2050, con số này có thể tăng lên khoảng 3 tỷ người;
        + Trên toàn cầu, hơn 80% nước thải sinh ra từ hoạt động xã hội chảy ngược trở lại môi trường mà không được xử lý hoặc tái sử dụng.
       +   Ít nhất 65% diện tích đất rừng bị suy thoái; từ năm 1900 đến nay, khoảng 64-71% diện tích đất ngập nước tự nhiên mất đi do hoạt động của con người.

          Tỉnh Bến Tre có tiềm năng trong việc ứng dụng các giải pháp dựa vào tự nhiên để góp phần bảo vệ, sử dụng hiệu quả nguồn nước trên địa bàn tỉnh. Có thể xem Bến Tre như là vùng đất ngập nước rộng lớn với hệ thống sông, rạch, kênh, mương dầy đặc; bãi bồi, rừng ngập mặn ven biển, Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú, Khu bảo tồn sân chim Vàm Hồ; hồ chứa nước ngọt…Bên cạnh đó là hành lang thực vật bản địa ven sông (như bần, dừa nước, sậy,…) và ven biển (mắm, đước,…).

DSC_0369_2018.JPGIMG_1634_201.jpg

Hình: Hành lang thực vật bản địa - bần, dừa nước ven sông tỉnh Bến Tre

(Ảnh: Duy Anh)

       Trước nhu cầu sử dụng nước để phát huy thế mạnh kinh tế của tỉnh về nuôi trồng thủy sản, trồng trọt trong thời gian tới; áp lực nước thải từ phát triển công nghiệp và thách thức liên quan đến khô hạn, xâm nhập mặn thì bên cạnh các biện pháp công trình thủy lợi trọng điểm, việc quản lý và bảo vệ, phát triển "cơ sở hạ tầng xanh" hiện có của tỉnh là một trong những giải pháp cần được quan tâm hơn. Đây sẽ là giải pháp hỗ trợ tích cực trong phát huy hiệu quả các công trình thủy lợi, cải thiện chất lượng nước, bảo tồn đa dạng sinh học và ít tốn kém chi phí trong điều kiện hạn chế về nguồn lực, giải pháp phù hợp với tinh thần Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng biến đổi khí hậu.

(Nguồn thông tin ngày Nước thế giới 2018 - website: worldwaterday.org)

Huỳnh Lê Duy Anh - P. Quản lý tài nguyên và Khí tượng thủy văn


13/03/2018 11:00 SAĐã ban hành
Tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sảnTập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản
Ngày 8 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường số 3 Tỉnh Ủy, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức lớp tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản

08.8.TapHuan_VB_QPPL_QLTN-KS-1.jpg

Ông Trịnh Minh Khôi - Chánh Văn phòng Sở phát biểu khai mạc lớp tập huấn. (Ảnh: Duy Anh)

       Trong thời gian qua, tình hình khai thác cát trái phép trên địa bàn tỉnh nói riêng, cả nước nói chung có những diễn biến phức tạp. Nguyên nhân do nhu cầu sử dụng cát làm vật liệu san lấp rất lớn, trong khi lượng cát bổ cập từ thượng nguồn về ngày càng giảm. Trước tình hình trên, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện nghiêm túc, những quy định pháp luật hiện hành, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều biện pháp, giải pháp để xử lý có hiệu quả với nạn khai thác cát trái phép này.     

        Nhằm góp phần nâng cao năng lực cán bộ trong thực thi công vụ và hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, ngày 8 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường số 3 Tỉnh Ủy, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức lớp tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản.

         Đến tham dự và chủ trì có Ông Lê Văn Đáo - Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cùng sự tham gia của gần 200 Đại biểu là đại diện các sở, ngành liên quan; Công an tỉnh; Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; Ủy ban nhân dân, Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố Bến Tre; Đoàn kiểm tra liên ngành khoáng sản tỉnh, huyện; Ủy ban nhân dân 164 xã, phường, thị trấn; và các Công ty, Hợp tác xã khai thác cát trên địa bàn tỉnh.

08.8.TapHuan_VB_QPPL_QLTN-KS-3.png
                              Quan cảnh lớp tập huấn. (Ảnh: Duy Anh)

        Lớp tập huấn đã phổ biến, cập nhật các chính sách, pháp luật về tài nguyên của Trung ương và Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành trong thời gian gần đây để áp dụng vào công tác thanh tra, kiểm tra và quản lý trên địa bàn tỉnh. Trong đó, nội dung tập huấn tập trung vào các văn bản Quy phạm pháp luật như Nghị định 158/2016/ND-CP ngày 29 tháng 11 năm 2016 quy định chi tiết thi hành một số điều Luật khoáng sản; Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2017 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản; Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 11 năm 2016 xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Quyết định số 27/2017/QĐ-UBND ngày 19 tháng 5 năm 2017 ban hành quy chế quản lý hoạt động khoáng sản tỉnh Bến Tre. Bên cạnh đó, các Đại biểu tham dự tập huấn đã trao đổi, thảo luận, chia sẻ những khó khăn, kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ.

Huỳnh Lê Duy Anh
08/08/2017 4:00 CHĐã ban hành
Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Mùa mặn 2016-2017)Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Mùa mặn 2016-2017)
Bản tin dự báo độ mặn - Bản tin mặn cuối cùng - Mùa mặn 2016-2017 (Tuần 24/2017)

I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 06 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 13/06/2017 (TUẦN 23/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế giảm nhẹ ít biến đổi từ ngày 06 đến 13.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 06-11  ở mức xấp xỉ thấp hơn so với tuần trước và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 18.6 ‰  ngày 06.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 3.2 ‰  ngày 06.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 0.2 ‰  ngày 06-11.

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): 12.3 ‰  ngày 06.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): 0.4 ‰  ngày 06, 10, 11.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 0.1 ‰ ngày 06.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): 0.1 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): 9.3 ‰  ngày 13.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mõ Cày Nam): 0.2 ‰  ngày 06.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Lộc Thuận - Phú Vang (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 20-22km).

- Sông Hàm Luông: xã An Hiệp (huyện Ba Tri) – Mỹ An (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 16-18km).

- Sông Cổ Chiên: xã Bình Thạnh - Hòa Lợi (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 16-18km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

- Sông Hàm Luông: xã Hưng Lễ (huyện Giồng Trôm) – Phú Khánh (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 24-26km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thới Thạnh (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 26-28km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TRONG THỜI GIAN TỚI:

Xâm nhập mặn trên các sông chính trong tỉnh có xu thế lùi dần về cửa sông. Trong nửa cuối tháng 06 còn xuất hiện 01 đợt xâm nhập mặn với độ mặn 4o/oo xâm nhập sâu nhất cách cửa sông khoảng 30km, độ mặn 1o/oo xâm nhập sâu nhất khoảng 40km rồi rút nhanh. Sau đó mặn xâm nhập giảm nhanh cho đến cuối tháng 07 năm 2017, lúc này độ mặn 4o/oo chỉ tồn tại ở vùng cửa sông.

 Đây là bản tin dự báo xâm nhập mặn cuối cùng trong mùa mặn năm nay.

 (Bản tin dự báo xâm nhập mặn tiếp theo sẽ được phát trong tháng 12 năm nay)

TUAN24.png 

Ban tin man 20-6-2017 (Tuan24).png

20/06/2017 3:00 CHĐã ban hành
Bến Tre thực hiện quy định về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biểnBến Tre thực hiện quy định về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển
Thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, để tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và đảm bảo khai thác hiệu quả, bền vững quỹ đất ven biển, ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, UBND tỉnh đã có ý kiến chỉ đạo tại Công văn số 585/UBND-KT ngày 20/02/2017 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

Theo quy định tại khoản 1, Điều 79 của Luật tài nguyên và môi trường biển và hải đảo "Kể từ thời điểm Luật này được công bố (tức là ngày 08/7/2015), giữ nguyên hiện trạng", không được phép đầu tư, xây dựng mới công trình trong phạm vi 100m tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển xác định theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường (tại Công văn số 3628/BTNMT-TCBHĐVN ngày 01/9/2015 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo) cho đến khi hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập theo quy định của Luật này, trừ các trường hợp sau: (01) Xây dựng mới công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phòng, chống thiên tai, sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; (02) Xây dựng mới công trình theo dự án đầu tư phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển quyết định chủ trương đầu tư; (03) Xây dựng công trình theo dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc xây dựng công trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng trước thời điểm Luật này được công bố.

Thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, để tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và đảm bảo khai thác hiệu quả, bền vững quỹ đất ven biển, ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, UBND tỉnh đã có ý kiến chỉ đạo tại Công văn số 585/UBND-KT ngày 20/02/2017 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. UBND tỉnh Bến Tre yêu cầu các Sở, ban, ngành có liên quan và UBND 3 huyện ven biển thực hiện một số nội dung trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 27/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và quản lý đất đai các dự án ven biển.

Hai là, có trách nhiệm rà soát, báo cáo việc quản lý, sử dụng hành lang bờ biển; số lượng cụ thể các công trình, dự án của các tổ chức doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng và đánh giá sơ bộ mức độ ảnh hưởng của các dự án này khi áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 79 của Luật tài nguyên và môi trường biển và hải đảo, phân loại theo nhóm gồm: các dự án đã được giao đất, cho thuê đất; các dự án đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500, nhưng chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất; các dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư , nhưng chưa phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500; đề xuất UBND tỉnh chủ trương xử lý chung.

              Ba là, kiểm tra, đánh giá sự phù hợp của các dự án đầu tư tại khu vực ven biển với quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt; rà soát tổng thể các dự án để điều chỉnh quy hoạch xây dựng gắn với quy hoạch sử dụng đất đảm bảo lợi ích cộng đồng dân cư và doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn; khai thác sử dụng không gian ven biển hiệu quả, thích ứng với biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh quốc phòng, đảm bảo quỹ đất bố trí hạ tầng kỹ thuật, khu du lịch, công viên, khu vực bảo tồn, phòng hộ…

so_do_pham_vi_nc.jpg

Đồng thời giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan và UBND 3 huyện ven biển xây dựng Dự án “Thiết lập và quản lý hành lang bảo vệ bờ biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre” đúng theo thời gian Luật định./.

Bài và ảnh: Vĩnh Thịnh

28/11/2017 10:00 SAĐã ban hành
Công văn 2450/STNMT-CCBVMT Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan cảng nhập Bình DươngCông văn 2450/STNMT-CCBVMT Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan cảng nhập Bình Dương
Công văn 2450/STNMT-CCBVMT Về việc thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan cảng nhập Bình Dương

Tải văn bản: 2450_STNMT_CCBVMT_2018.pdf

10/09/2018 4:00 CHĐã ban hành
Hội nghị triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu khu vực miền Nam; Cơ hội, thách thức và hành động ứng phó của Bến TreHội nghị triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu khu vực miền Nam; Cơ hội, thách thức và hành động ứng phó của Bến Tre
Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội nghị tập huấn triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu

           Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội nghị tập huấn triển khai thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Hội nghị do Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì cùng Đại diện Cục Biến đổi khí hậu, Viện Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu và Đại biểu tham dự đến từ các Sở Tài nguyên và Môi trường, Công thương, Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của 19 tỉnh, thành phố khu vực miền Nam.

            Đại biểu tỉnh Bến Tre tham dự Hội nghị là các thành viên Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Công thương và Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

21.8-Paris_-_HCM_workshop_2017.png 

Hình: Ông Võ Văn Ngoan - Sở Tài nguyên và Môi trường chia sẻ kinh nghiệm ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre (Ảnh: Duy Anh)

        Hội nghị đã phổ biến các thông tin liên quan đến kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris của Việt Nam theo Quyết định 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ; hướng dẫn xây dựng kế hoạch cấp tỉnh thực hiện Thỏa thuận Paris. Đồng thời, Hội nghị cung cấp các thông tin về kịch bản biến đổi khí hậu và tác động đến ĐBSCL; công tác quản lý Nhà nước về biến đổi khí hậu; gắn kết tăng trưởng xanh, giảm nhẹ rủi ro thiên tai với ứng phó biến đổi khí hậu để phát triển bền vững; và trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm ứng phó biến đổi khí hậu giữa các tỉnh, thành phố trong khu vực.

        Theo Cục Biến đổi khí hậu - Bộ Tài nguyên và Môi trường: trong khuôn khổ Thỏa thuận Paris, Việt Nam sẽ thực hiện "Đóng góp do quốc gia tự quyết" (NDC) đến năm 2030 với hai hợp phần chính: về giảm nhẹ cam kết giảm 8% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát thải thông thường và có thể tăng lên 25% khi nhận được sự hỗ trợ của quốc tế; về thích ứng sẽ tiếp tục thực hiện các chương trình, dự án thuộc Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu nhằm tăng khả năng chống chịu, bảo vệ cuộc sống và sinh kế nhân dân; Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris của Việt Nam thực hiện 05 mục tiêu cụ thể trong NDC: (1) Thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính; (2) Thực hiện cam kết thích ứng biến đổi khí hậu; (3) Chuẩn bị nguồn lực con người, công nghệ và tài chính; (4) Thiết lập hệ thống công khai, minh bạch nhằm giám sát, đánh giá các nội dung thực hiện của mục tiêu (1), (2) và (3); mục tiêu (5) là hoàn thiện thể chế, chính sách tạo môi trường thuận lợi và tập trung nỗ lực quốc gia cho ứng phó biến đổi khí hậu; Khung thời gian của Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris đến năm 2030, trong đó: giai đoạn 2016 - 2020 tiếp tục thực hiện các hoạt động ứng phó biến đổi khí hậu đã được phê duyệt, chuẩn bị về mặt thể chế chính sách, nguồn lực nhằm đến năm 2020 sẵn sàng thực hiện các nghĩa vụ do Thỏa thuận Paris quy định; giai đoạn 2021 - 2030 thực hiện các nội dung trong NDC và các nhiệm vụ mới theo quy định của thỏa thuận Paris.

            Bến Tre là một trong những tỉnh được nhận định chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, tỉnh đã xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 - 2020 và cụ thể các nhiệm vụ thực hiện thỏa thuận Paris cho giai đoạn 2017 - 2020 trên cơ sở Quyết định số 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu (Báo cáo số 01/BC-BCĐBĐKH ngày 25/7/2017), sau thời gian thực hiện các nhiệm vụ ứng phó biến đổi khí hậu đến tháng 6/2017 tỉnh đã đạt những kết quả tích cực, nhưng vẫn tồn tại một số khó khăn, hạn chế và những thách thức, cơ hội trong thời gian tới, cụ thể như sau:

           Hạn chế, khó khăn: công tác ứng phó còn bị động, lúng túng; sự quan tâm chưa đúng mức của một số cán bộ, công chức, một bộ phận người dân chưa tích cực tham gia bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; về nguồn nhân lực, tỉnh đã thành lập Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo đều là cán bộ kiêm nhiệm.

          Cơ hội hỗ trợ, hợp tác quốc tế; ứng dụng công nghệ tiên tiến trong ứng phó biến đổi khí hậu: tỉnh đã và đang tranh thủ được tài trợ Quốc tế, hỗ trợ của Trung ương triển khai các công trình trọng điểm ứng phó biến đổi khí như Dự án Quản lý nước tỉnh Bến Tre (ứng dụng công nghệ Nhật trong quản lý nước và ứng phó hạn mặn); Xây dựng hệ thống quan trắc chất lượng nước và cảnh báo mặn tự động (Deltares Hà Lan tư vấn thực hiện); Cấp nước sinh hoạt Cù lao Minh trong điều kiện biến đổi khí hậu; Dự án Đê biển Thạnh Phú; Củng cố, nâng cấp đê biển huyện Bình Đại; Cân đối ngân sách tỉnh thực hiện dự án Hồ chứa nước ngọt Kênh lấp huyện Ba Tri; Và cơ hội phát triển điện năng lượng mặt trời, điện gió góp phần giảm phát thải khí nhà kính.

         Thách thức: các tác động của biến đổi khí hậu ngày càng bất thường và có xu hướng gia tăng về cường độ; nguy cơ xâm nhập mặn, khô hạn kéo dài, sạt lở ven biển, triều cường,…vẫn tiếp diễn, mặt khác các công trình trọng điểm ứng phó chưa hoàn thành, khép kín; thêm vào đó, khả năng thông tin, cảnh báo, dự báo mặn còn hạn chế và sự không ổn định của nước thượng nguồn sông Mekong gia tăng áp lực lên công tác ứng phó biến đổi khí hậu.

Huỳnh Lê Duy Anh - Phòng QLTN&KTTV


22/08/2017 8:00 SAĐã ban hành
Công văn về việc Thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan cảng nhập Bình DươngCông văn về việc Thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan cảng nhập Bình Dương
Công văn số 2243/STNMT-CCBVMT về việc Thông báo lô hàng phế liệu nhập khẩu để kiểm tra, thông quan cảng nhập Bình Dương

Tải nội dung văn bản: 2243_STNMT_CCBVMT_2018.pdf

27/08/2018 9:00 SAĐã ban hành
Bản đồ ngập nguy cơ ngập của tỉnh Bến Tre theo kịch bản 2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trườngBản đồ ngập nguy cơ ngập của tỉnh Bến Tre theo kịch bản 2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Bản đồ ngập nguy cơ ngập của tỉnh Bến Tre theo kịch bản 2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
29/03/2017 1:40 CHĐã ban hành
Thông báo về việc tham gia dịch vụ tư vấn thẩm định giáThông báo về việc tham gia dịch vụ tư vấn thẩm định giá
Thông báo về việc tham gia dịch vụ tư vấn thẩm định giá trang thiết bị cho gói thầu mua sắm thiết bị nâng cao năng lực công tác quan trắc môi trường tỉnh Bến Tre

​Tải nội dung: 895_TB_STNMT.7z

23/04/2018 8:00 SAĐã ban hành
Góp ý Dự thảo Quyết định quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre thay thế Quyết định 59/2017/QĐ-UBNDGóp ý Dự thảo Quyết định quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre thay thế Quyết định 59/2017/QĐ-UBND
Góp ý Dự thảo Quyết định quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre thay thế Quyết định 59/2017/QĐ-UBND

​       Để thống nhất ý kiến trước khi trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, ký ban hành Quyết định, Sở Tài nguyên và Môi trường gửi các Sở, Ngành, Tòa án nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố góp ý Dự thảo Quyết định.

        Ý kiến góp ý của các đơn vị gửi bằng văn bản về Sở Tài nguyên và Môi trường (File số gửi về địa chỉ tthien.stnmt@bentre.gov.vn) trước ngày 25 tháng 5 năm 2018 để Sở tổng hợp.

Tải nội dung: 1171_STNMT_DDBD_VT_2018.7z

 

21/05/2018 3:00 CHĐã ban hành
Công văn 1471/STNMT-QLTN&KTTV về việc Thực hiện các quy định trong việc tư vấn lập Hồ sơ cấp giấy phép tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bến TreCông văn 1471/STNMT-QLTN&KTTV về việc Thực hiện các quy định trong việc tư vấn lập Hồ sơ cấp giấy phép tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Công văn 1471/STNMT-QLTN&KTTV về việc Thực hiện các quy định trong việc tư vấn lập Hồ sơ cấp giấy phép tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre

​    

Tải văn bản: 1471_2018_STNMT-QLTN-KTTV.7z

12/06/2018 11:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  từ ngày 08/01/2018 đến ngày 12/01/201817Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  từ ngày 08/01/2018 đến ngày 12/01/201817
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  từ ngày 08/01/2018 đến ngày 12/01/201817
15/01/2018 9:00 SAĐã ban hành
Tìm hiểu quy định về Cấp phép xả thải vào nguồn nước: BIỆN PHÁP HẠN CHẾ Ô NHIỄM TÀI NGUYÊN NƯỚCTìm hiểu quy định về Cấp phép xả thải vào nguồn nước: BIỆN PHÁP HẠN CHẾ Ô NHIỄM TÀI NGUYÊN NƯỚC
Hiện nay, dư luận trong nước hết sức bức xúc và lên án hành vi xả nước thải chưa qua xử lý gây ô nhiễm môi trường nước mặt ở sông, hồ…



Hiện nay, dư luận trong nước hết sức bức xúc và lên án hành vi xả nước thải chưa qua xử lý gây ô nhiễm môi trường nước mặt ở sông, hồ… của một số công ty, xí nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh. Theo số liệu công bố của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính chung trên địa bàn cả nước, lượng nước thải các loại chưa được xử lý nhưng vẫn xả thẳng ra môi trường hàng năm lên tới 1,5 tỷ m3, trong đó các khu đô thị và khu công nghiệp mỗi ngày thải khoảng hơn 3 triệu m3 nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất xả trực tiếp vào nguồn nước mặt. Với hàm lượng các chất gây ô nhiễm cao. khối lượng nước thải này đã và đang gây ô nhiễm nghiêm trọng cho rất nhiều con sông, nơi là nguồn cấp nước chủ yếu cho các nhà máy nước công suất lớn và trạm cấp nước quy mô nhỏ phục vụ cấp nước sinh hoạt và sản xuất hàng ngày tại các đô thị, các khu tập trung đông dân cư.
Sau khi Luật Tài nguyên nước ra đời, ngày 27/7/2004 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 149/2004/NĐ-CP quy định cụ thể về việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước xả nước thải vào nguồn nước. Trong chuyên mục Tài nguyên và Môi trường kỳ này chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc về trình tự thủ tục cấp giấy phép xả thải vào nguồn nước theo quy định của pháp luật như sau :
Thẩm quyền cấp phép
- Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp, gia hạn, thay đổi thời hạn, điều chỉnh nội dung, đình chỉ hiệu lực và thu hồi Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước với lưu lượng từ 5000 m3/ngày đêm trở lên.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp, gia hạn, thay đổi thời hạn, điều chỉnh nội dung, đình chỉ hiệu lực và thu hồi phép xả nước thải vào nguồn nước với lưu lượng dưới 5000 m3/ngày đêm.
Trình tự, thủ tục, hồ sơ cấp phép :
* Xin phép xả nước thải:
Hồ sơ gồm 02 bộ:
- Đơn đề nghị cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước;
- Kết quả phân tích chất lượng nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải theo quy định của Nhà nước tại thời điểm xin cấp phép;
- Quy định vùng bảo hộ vệ sinh (nếu có) do cơ quan có thẩm quyền quy định tại nơi dự kiến xả nước thải;
- Đề án xả nước thải vào nguồn nước, kèm theo quy trình vận hành hệ thống xử lý nước thải; trường hợp đang xả nước thải vào nguồn nước thì phải có báo cáo hiện trạng xả nước thải, kèm theo kết quả phân tích thành phần nước thải và giấy xác nhận đã nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải;
- Bản đồ vị trí khu vực xả nước thải vào nguồn nước tỷ lệ 1/10.000;
- Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đối với trường hợp phải đánh giá tác động môi trường;
- Bản sao có công chứng giấy chứng nhận, hoặc giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai tại nơi đặt công trình xả nước thải. Trường hợp đất nơi đặt công trình xả nước thải không thuộc quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân xin phép thì phải có văn bản thoả thuận cho sử dụng đất giữa tổ chức, cá nhân xả nước thải với tổ chức, cá nhân đang có quyền sử dụng đất, được ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận.
(Thời hạn của giấy phép không quá mười (10) năm).
* Xin gia hạn giấy phép xả nước thải:
Hồ sơ gồm 02 bộ: Giấy phép đang còn hiệu lực ít nhất một (01) tháng; Đơn đề nghị gia hạn giấy phép; Kết quả phân tích chất lượng nguồn nước theo quy định của Nhà nước tại thời điểm xin gia hạn; Báo cáo việc thực hiện các quy định trong giấy phép.
(Thời hạn gia hạn của giấy phép không quá năm (05) năm).
* Xin thay đổi thời hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép xả nước thải:
Hồ sơ gồm 02 bộ: Giấy phép đã được cấp; Đơn đề nghị thay đổi thời hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép; Bản báo cáo kết quả phân tích chất lượng nguồn nước theo quy định của Nhà nước tại thời điểm xin thay đổi thời hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép; Báo cáo việc thực hiện các quy định trong giấy phép; Đề án xả nước thải vào nguồn nướctrong trường hợp đề nghị điều chỉnh nội dung giấy phép.
Thời gian giải quyết :
- Cấp giấy phép mới: 30 ngày.
- Gia hạn, điều chỉnh nội dung: 20 ngày.
Nghị định số 149/2004/NĐ-CP là công cụ pháp lý quan trọng để quản lý việc khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước tại địa phương; là cơ sở để các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng, xả thải đúng quy định về xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi xả ra môi trường. Việc tuân thủ nghiêm quy định về cấp phép xả thải vào nguồn nước là một biện pháp hạn chế ô nhiễm môi trường nước mặt qua đó cũng giúp đảm bảo quyền lợi của những tổ chức, cá nhân đã xin cấp phép./.

VĂN PHONG



07/11/2008 12:00 SAĐã ban hành
Thông tư sửa đổi, bổ sung về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuê mặt nước năm 2018Thông tư sửa đổi, bổ sung về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuê mặt nước năm 2018
Ngày 30 tháng 01 năm 2018, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 10/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16 tháng 6 năm 2014 Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất và Thông tư số 11/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước

         Ngày 30 tháng 01 năm 2018, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 10/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16 tháng 6 năm 2014 Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất và Thông tư số 11/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước. Một số nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:

    * Thông tư số 10/2018/TT-BTC về thu tiền sử dung đất:

    - Bổ sung việc xác định tiền sử dụng đất khi cấp lại Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật, cụ thể:

     Trường hợp Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật do lỗi của cơ quan nhà nước thì tiền sử dụng đất khi cấp lại Giấy chứng nhận được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm đã cấp Giấy chứng nhận trước đây. Trường hợp Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật do lỗi của người sử dụng đất thì tiền sử dụng đất khi cấp lại Giấy chứng nhận được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

      Trường hợp người sử dụng đất chưa nộp tiền sử dụng đất khi được cấp Giấy chứng nhận trước đây hoặc số tiền đã nộp nhỏ hơn số tiền sử dụng đất được xác định lại thì người sử dụng đất phải nộp số tiền sử dụng đất còn thiếu. Trường hợp số tiền sử dụng đất mà người sử dụng đất đã nộp trước đây lớn hơn số tiền sử dụng đất phải nộp khi xác định lại thì người sử dụng đất được Nhà nước hoàn trả số tiền đã nộp thừa theo quy định.

     - Hướng dẫn thu tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích đất tăng thêm do đo đạc lại so với giấy tờ về quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất:

     Trường hợp được cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích tăng thêm theo quy định tại khoản 20 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP mà hộ gia đình, cá nhân đã có Giấy chứng nhận thì nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích tăng thêm theo chính sách và giá đất tại thời điểm đã cấp Giấy chứng nhận.

     Trường hợp được cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích tăng thêm theo quy định tại khoản 20 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP mà hộ gia đình, cá nhân có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật Đất đai, Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích đất tăng thêm theo chính sách và giá đất tại thời điểm có quyết định công nhận quyền sử dụng đất tăng thêm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền".

      * Thông tư số 11/2018/TT-BTC về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước:

      - Hướng dẫn đối với trường hợp người được Nhà nước cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê và được miễn toàn bộ tiền thuê đất nhưng trong thời gian thuê có nguyện vọng nộp tiền thuê đất (không hưởng ưu đãi) thì số tiền thuê đất phải nộp một lần cho thời gian thuê đất còn lại được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm người sử dụng đất có văn bản đề nghị được nộp tiền thuê đất.

      - Hướng dẫn việc trừ tiền thuê đất đối với trường hợp nhà đầu tư chi trả tiền đền bù, giải phóng mặt băng (bao gồm cả trường hợp tự thỏa thuận nhận bồi thường hoặc tự nhận chuyển nhượng) theo quy định của pháp luật thì được trừ số tiền bồi thường về đất, hỗ trợ về đất theo phương án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc giá trị quyền sử dụng đất theo mục đích đất nhận chuyển nhượng hợp pháp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định và phê duyệt (đối với trường hợp tự thỏa thuận bồi thường, tự nhận chuyển nhượng) tại thời điểm tự thỏa thuận, tự nhận chuyển nhượng.

      Hai thông tư trên có hiệu lực kể từ ngày 20 tháng 3 năm 2018./.

Đính kèm: TT_10_11_2018.rar

Nguyễn Khắc Phương - Chi cục Quản lý đất đai

06/03/2018 9:00 SAĐã ban hành
Góp ý Dự thảo quyết định thu hồi đất đối với trường hợp bên thuê đất, thuê lại đất  trong khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp, làng nghề  không đưa đất vào sử dụng, chậm đưa đất vào sử dụngGóp ý Dự thảo quyết định thu hồi đất đối với trường hợp bên thuê đất, thuê lại đất  trong khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp, làng nghề  không đưa đất vào sử dụng, chậm đưa đất vào sử dụng
Góp ý Dự thảo quyết định thu hồi đất đối với trường hợp bên thuê đất, thuê lại đất  trong khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp, làng nghề  không đưa đất vào sử dụng, chậm đưa đất vào sử dụng

​        Để hoàn chỉnh dự thảo Quyết định trước khi trình Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường xin gửi dự thảo Quyết định đến các Sở, ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố để tham gia góp ý.

      - Thời gian góp ý: Trước ngày 02 tháng 4 năm 2018

     - Địa chỉ nhận góp ý: chicucqlddbentre@gmail.com

     Sở Tài nguyên và Môi trường rất mong nhận được sự quan tâm góp ý từ các đơn vị để dự thảo được hoàn chỉnh.

Tải nội dung: CV_659_STNMT_CCQLDD.pdf

                          Du_thao_kem_659_2018.doc


26/03/2018 3:00 CHĐã ban hành
Công văn 743/STNMT-QLTN&KTTV về việc Triển khai thực hiện Thông tư 61/2017/TT-BTNMT trong việc thống kê sản lượng khai thác thực tếCông văn 743/STNMT-QLTN&KTTV về việc Triển khai thực hiện Thông tư 61/2017/TT-BTNMT trong việc thống kê sản lượng khai thác thực tế
Công văn 743/STNMT-QLTN&KTTV về việc Triển khai thực hiện Thông tư 61/2017/TT-BTNMT trong việc thống kê sản lượng khai thác thực tế

​      Ngày 22 tháng 12 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 61/2017/TT-BTNMT quy định quy trình, phương pháp xác định và các mẫu biểu thống kê sản lượng khoáng sản thực tế.

      Để công tác báo cáo hoạt động khai thác và kiểm kê sản lượng khoáng sản khai thác thực tế của các đơn vị được cấp phép khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh đảm bảo đúng theo quy định hiện hành, Sở Tài nguyên và Môi trường thông tin nội dung Thông tư đến Quý Công ty, Hợp tác xã để biết bổ sung và thực hiện trong việc báo cáo kết quả hoạt động của đơn vị.


Tải nội dung: 61_2017_TT_BTNMT.rar

                        


04/04/2018 2:00 CHĐã ban hành
Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp  tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh Bến TreQuy chế phối hợp quản lý tổng hợp  tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Ngày 04/10/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ký Quyết định số 52/2017/QĐ-UBND ban hành Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển tỉnh Bến Tre

          Ngày 04/10/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ký Quyết định số 52/2017/QĐ-UBND ban hành Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển tỉnh Bến Tre. Việc ban hành quy chế nhằm mục đích đưa hoạt động quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh đảm bảo chặt chẽ, hiệu quả theo đúng quy định pháp luật; thiết lập cơ chế phối hợp đồng bộ, phân định và nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa các sở, ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức có liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện ven biển trong hoạt động quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; và nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường biển theo hướng bền vững.

mot_goc_bo_ThanhPhu.png

Một góc bờ biển Thạnh Phú, Bến Tre

Quy chế phối hợp được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm sự quản lý thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, phân công rõ nhiệm vụ của từng sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện ven biển và các tổ chức có liên quan trong việc chủ trì, phối hợp thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; việc thực hiện các nhiệm vụ phối hợp phải trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, bảo đảm bí mật quốc gia và bảo mật thông tin theo quy định của pháp luật; tuân thủ các quy định của Quy chế này và các quy định của pháp luật có liên quan; không cản trở các hoạt động khai thác, sử dụng hợp pháp tài nguyên biển, hải đảo và các hoạt động hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân trên vùng biển của tỉnh.

Quy chế gồm có 03 Chương và 11 Điều, các nội dung phối hợp được nêu trong quy chế gồm:

- Phối hợp xây dựng, thực hiện văn bản pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.

- Phối hợp lập và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch sử dụng khai thác bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển; quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển; quy hoạch khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ.

- Phối hợp quản lý, thực hiện hoạt động điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về tài nguyên môi trường biển.

- Phối hợp thiết lập hệ thống quan trắc, giám sát tổng hợp về tài nguyên, môi trường biển; xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển.

- Phối hợp kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; ứng phó, khắc phục sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển.

- Phối hợp tuyên truyền về biển và hải đảo; phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

- Phối hợp hợp tác quốc tế về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo.

- Thanh tra, kiểm tra giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.

Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển tỉnh Bến Tre có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/10/2017./.

Vĩnh Thịnh


28/11/2017 10:00 SAĐã ban hành
Họp tổ giúp việc Ban chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến TreHọp tổ giúp việc Ban chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre
Ngày 14 tháng 7 năm 2017, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức cuộc họp các thành viên Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre định kỳ 06 tháng (lần 01) năm 2017

      Ngày 14 tháng 7 năm 2017, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức cuộc họp các thành viên Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre định kỳ 06 tháng (lần 01) năm 2017 do Ông Nguyễn Văn Chinh (Phó trưởng Ban Chỉ đạo - Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường) chủ trì cùng với sự tham dự của 18 thành viên Tổ giúp việc là Lãnh đạo, chuyên viên thuộc các Sở.

19.7.HopToGiupViec_BCĐ-UPBĐKH.jpg

Hình: Họp Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre

(Ảnh: Duy Anh)

     Tổ giúp việc được thành lập đồng thời với kiện toàn Ban Chỉ đạo theo Quyết định số 2903/QĐ-UBND ngày 30 tháng 11 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Thành lập Tổ giúp việc làm đầu mối tại các cơ quan và tham mưu cho Ban Chỉ đạo là điểm mới trong bộ máy ứng phó biến đổi khí hậu của tỉnh so với giai đoạn 2010 - 2015. Tổ giúp việc tổ chức họp theo Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo định kỳ 06 tháng nhằm tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện các nhiệm vụ ứng phó biến đổi khí hậu của tỉnh để kịp thời báo cáo, đề xuất Ban Chỉ đạo, Ủy ban nhân dân tỉnh giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện và kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo.

          Bên cạnh các nội dung nêu trên, cuộc họp đã phổ biến các chủ trương, chính sách mới của Trung ương, tỉnh về biến đổi khí hậu như: Thông báo số 278/TB-VPCP ngày 22 tháng 6 năm 2017 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp lần thứ VIII Ủy ban quốc gia về biến đổi khí hậu; Quyết định số 2053/QĐ-TTg ngày 28 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu của Việt Nam; tiếp tục quán triệt Chỉ thị 10-CT/TU ngày 19 tháng 5 năm 2016 của Tỉnh Ủy về nâng cao năng lực ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; phổ biến nhiệm vụ thực hiện Thỏa thuận Paris của tỉnh theo Công văn số 964/UBND-KT ngày 14 tháng 2 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Duy Anh


19/07/2017 2:00 CHĐã ban hành
Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 07/02 đến ngày 14/2/2017)Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 07/02 đến ngày 14/2/2017)
Bản tin dự báo độ mặn từ ngày 07 tháng 02 đến ngày 14 tháng 02 năm 2017 (Tuần 06/2017)

I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 31/01 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 07/02/2017 (TUẦN 05/2017) :

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế giảm dần từ ngày 31/01 đến ngày 04/02, rồi xâm nhập sâu dần từ ngày 05 đến ngày 07.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 31/01 đến ngày 01/02 và ở mức ít sâu hơn so với tuần trước và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

* Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 17.1 ‰ ngày 31.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 5.0 ‰  ngày 31.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 0.2 ‰ ngày 31/01-04/02.

+ Tại Giới Sơn (Ấp 2, xã Giới Sơn - huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

+ Tại Long Hoà (xã Long Hoà - huyện Châu Thành): 0.1 ‰ (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm - huyện Ba Tri): 19.1 ‰ ngày 31.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): 5.1 ‰ ngày 31.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh - huyện Thạnh Phú): 4.0 ‰ ngày 31.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long - huyện Giồng Trôm): 1.3 ‰ ngày 31.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 - Tp. Bến Tre): 0.3 ‰ ngày 31/01-01/02.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận - huyện Thạnh Phú): 19.0 ‰ ngày 31.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): 2.3 ‰ ngày 31.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B - huyện Mõ Cày Nam): 0.2 ‰ ngày 31/01-01/02.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Vang - Vang Quới Đông (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 24-26km).

- Sông Hàm Luông: xã Thạnh Phú Đông (huyện Giồng Trôm), (cách cửa sông khoảng 28-30km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thới Thạnh (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 24-26km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Long Định (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 34-36km).

- Sông Hàm Luông: xã Phước Long (huyện Giồng Trôm), (cách cửa sông khoảng 38-40km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn (huyện Mỏ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 34-36km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 07 ĐẾN NGÀY 14/02/2017 (TUẦN 06/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế xâm nhập sâu dần từ ngày 07 đến ngày 14.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 12 đến 14 ở mức sâu hơn so với tuần qua và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  25.0 ‰ đến 28.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  12.0 ‰ đến 15.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  6.0 ‰ đến 8.0 ‰.

+ Tại Quới Sơn (ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax từ  2.0 ‰ đến 4.0 ‰.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): 3.0 ‰ đến 5.0 ‰ (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm - huyện Ba Tri): Smax từ 27.0 ‰ đến 30.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ 13.0 ‰ đến 16.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh - huyện Thạnh Phú): Smax từ 11.0 ‰ đến 14.0 ‰ (trong kênh).

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long - huyện Giồng Trôm): Smax từ 8.0 ‰ đến 11.0 ‰

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 - Tp. Bến Tre): Smax từ  5.0 ‰ đến 7.0 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): Smax từ 2.5 ‰ đến 4.5 ‰

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn - huyện Chợ Lách): Smax từ  0.5 ‰ đến 2.5 ‰.

+ Tại Hòa Nghĩa (xã Hòa Nghĩa - huyện Chợ Lách): 0.2 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận - huyện Thạnh Phú): Smax từ  26.0 ‰ đến 29.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mỏ Cày Nam): Smax từ  12.0 ‰ đến 15.0 ‰.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B - huyện Mỏ Cày Nam): Smax từ  9.0 ‰ đến 11.0 ‰.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân): Smax từ  3.0 ‰ đến 5.0 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 44-46km).

- Sông Hàm Luông: xã Sơn Hòa (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 52-54km).

- Sông Cổ Chiên: xã Nhuận Phú Tân (huyện Mỏ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 54 - 56km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã An Khánh - Phú Túc (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 56-58km).

- Sông Hàm Luông: xã Phú Sơn (huyện Chợ Lách), (cách cửa sông khoảng 64-66km).

- Sông Cổ Chiên: xã Tân Thiềng (huyện Chợ Lách), (cách cửa sông khoảng 64-66km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này: cấp độ 1.

Ban tin man 8-2-2017.png 

 Ban tin man 8-2-2017.png

10/02/2017 10:50 SAĐã ban hành
Hội nghị tập huấn nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong hoạt động sản xuất sinh vật cảnhHội nghị tập huấn nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong hoạt động sản xuất sinh vật cảnh
Hội nghị tập huấn nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong hoạt động sản xuất sinh vật cảnh

Ngày 14 tháng 10 năm 2017, tại thành phố Bến Tre, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Hội sinh vật cảnh tỉnh tổ chức hội nghị tập huấn nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong hoạt động sản xuất sinh vật cảnh cho các hội viên Hội sinh vật cảnh trên địa bàn tỉnh.

untitled.JPG

Tham dự hội nghị có lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ môi trường, lãnh đạo Hội sinh vật cảnh tỉnh và gần 220 hội viên hội sinh vật cảnh tỉnh.

Tại lớp tập huấn các học viên đã được nghe báo cáo viên trình bày các nội dung về: Cập nhật thông tin, tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới và tại Việt Nam; tác động của biến đổi khí hậu đến tỉnh Bến Tre; kịch bản biến đổi khí hậu Bến Tre và giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu. Theo đó, Bến Tre là một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và nước biển dâng thể hiện qua việc mực nước biển đã dâng khoảng 20cm so với cách đây 10 năm, nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0,05 – 0,150C, lượng mưa thay đổi thất thường cả về thời gian và cường độ, các hiện tượng cực đoan xuất hiện (bão, áp thấp nhiệt đới, lốc xoáy, mưa trái mùa, khô hạn, nắng nóng gay gắt, xâm nhập mặn,…) đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sản xuất người dân trên địa bàn tỉnh. Tại hội nghị, các tác động của biến đổi khí hậu (chủ yếu là diễn biến thất thường của thời tiết và xâm nhập mặn) đối với hoạt động sản xuất sinh vật cảnh cũng được các đại biểu tập trung thảo luận, phân tích. Đồng thời, các đại biểu cũng chia sẻ những kinh nghiệm trong quá trình sản xuất giúp ứng phó hiệu quả với các hiện tượng thời tiết trên.

untitled1.JPG

Qua hội nghị đã trang bị cho các đại biểu những kiến thức cơ bản liên quan đến tình hình, diễn biến và tác động của biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh, từ đó giúp các đại biểu có thể chủ động thực hiện các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu trong quá trình sản xuất sinh vật cảnh, góp phần có hiệu quả vào công tác ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới./.

19/10/2017 9:00 SAĐã ban hành
CÓ MỘT ĐIỀU KIỆN QUÁ DỄ DÀNG ĐỂ ĐƯỢC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤTCÓ MỘT ĐIỀU KIỆN QUÁ DỄ DÀNG ĐỂ ĐƯỢC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Theo quy định mới nhất của pháp luật đất đai, người đang sử dụng đất ổn định, được ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.



Trong các loại giấy tờ nêu trên, việc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính là một điều kiện rất thoáng và dễ dàng cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng thực tế, vấn đề này vẫn chưa được quan tâm và vận dụng đúng mức vì những lý do nào đó (Để biết Sổ đăng ký ruộng đất là gì, Sổ địa chính là gì, xin xem ghi chú phần a và b dưới đây).
Có thể nói, điều kiện nêu trên chưa được quan tâm thể hiện ở chỗ: việc cung cấp thông tin “có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính” hay không chưa có dịch vụ cung cấp ở các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, việc thẩm tra hồ sơ và xác nhận trong các hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng chưa được lưu ý đúng mức, mẫu hồ sơ xác nhận thông tin này chưa có,… Trong khi đó, hồ sơ địa chính do cơ quan nhà nước xác lập, xét duyệt và quản lý hồ sơ,… Việc đòi hỏi người dân cung cấp được giấy tờ nêu trên chẳng khác nào việc “đánh đố” người sử dụng đất, gây ra lủng củng và rườm rà trong quản lý.
Tuy nói có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính là một điều kiện rất thoáng và dễ dàng nhưng bản chất của việc được có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính là thành quả của một quá trình xác lập cơ sở pháp lý khá nghiêm ngặt, từ khâu đo đạc ngoài thực địa - kiểm tra - kê khai đăng ký - xét duyệt của hội đồng - công khai hồ sơ, kết thúc hồ sơ - lập sổ… theo một quy trình của cấp trung ương ban hành. Việc xem xét giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ban đầu là một phần của quy trình chung đó. Trong thực tế, vì lý do nào đó như thay đổi cán bộ địa chính, thành phần cán bộ Hội đồng đăng ký xét duyệt có thay đổi, chuyển công tác, mẫu hồ sơ có thay đổi,… mà trải qua một thời gian dài người sử dụng đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay nếu đất đai không có biến động mà đem xem xét lại từ đầu thì thật là lãng phí thời gian, tiền bạc của nhân dân, trong khi không khai thác được thông tin từ thành quả đã xây dựng hồ sơ địa chính trước đây.
Cách xem xét giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ban đầu như thời gian qua có thể nói là không toàn diện, làm biến dạng và kém hiệu quả tiến trình cải cách hành chính, gây lãng phí,… thậm chí là điều kiện để phát sinh tiêu cực.
Thiết nghĩ, các cơ quan có thẩm quyền và các cơ quan chuyên ngành quản lý đất đai cần có sự quan tâm đến vấn đề nêu trên để đảm bảo đầy đủ quyền lợi của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Mặt khác, nếu làm được và làm tốt vấn đề trên sẽ góp phần đáng kể trong việc đơn giản hoá thủ tục hành chính, hạn chế lãng phí các nguồn lực của nhà nước và nhân dân.

Ghi chú:
a- Sổ đăng ký ruộng đất: Được ban hành theo Quyết định số 56-ĐKTK ngày 05 tháng 11 năm 1981 của Tổng cục Quản lý ruộng đất. Sổ đăng ký ruộng đất có Sổ mẫu số 5a (dùng để ghi tổ chức) và Sổ mẫu 5b (dùng để ghi hộ gia đình, cá nhân); các sổ 5a, 5b này đều được lập trên cơ sở các đơn xin đăng ký ruộng đất đã được xét duyệt (tức là việc sử dụng đất được công nhận là hợp pháp).
b- Sổ địa chính: Được ban hành theo quyết định số 201-QĐ/ĐKTK ngày 14 tháng 7 nằm 1989 của Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý ruộng đất. Theo qui định thì Sổ địa chính được lập có nội dung như Sổ đăng ký ruộng đất (chỉ khác tên gọi). Như vậy, giá trị pháp lý giữa Sổ đăng ký ruộng đất và Sổ địa chính là như nhau.
(Tổng hợp từ: Luật Đất đai 2003; Hỏi đáp Pháp luật về Tài nguyên và Môi trường của Bộ TNMT-NXB Bản đồ-Hà Nội, năm 2007)

Mai Dũng Minh



21/08/2008 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nh​iệm chính: Ông Nguyễn Văn Chinh - Chức vụ: Giám đốc Sở TN và MT | Giấy phép số: 139/GP - BC, ngày 16 tháng 4 năm 2007
Địa chỉ trụ sở: Số 01 - Trần Quốc Tuấn - Phường 2 - Thành phố Bến Tre - Tỉnh Bến Tre
Điện thoại: 0275.3822210 - 0275.3211494 - Fax: 0275.3813176; Email: stnmt@bentre.gov.vn