Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Tài nguyên đất đai
Quyết định số 40/2018/QĐ-UBND về việc góp quyền sử dụng đất và điều chỉnh lại quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bến Tre 
 
Ngày 05 tháng 10 năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 136/2018/NĐ-CP sửa đổi một số điều của các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường. 
 
Góp ý Dự thảo Quyết định ban hành Quy định về quy trình thu hồi đất đối với các dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng hoặc triển khai chậm tiến độ thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh Bến Tre. 
 
 
Góp ý Dự thảo Quyết định ban hành Quy định về quy trình thu hồi đất đối với các dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng hoặc triển khai chậm tiến độ thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh Bến Tre 
 
Nghị quyết Quy định về chính sác h thúc đẩy tập trung đất đai, tạo quỹ đất để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Bến Tre 
 
Báo cáo đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai ở địa phương 
 
Gói thầu: Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre và Công bố, công khai kết quả Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre 
 
Góp ý Dự thảo quyết định thu hồi đất đối với trường hợp bên thuê đất, thuê lại đất trong khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp, làng nghề không đưa đất vào sử dụng, chậm đưa đất vào sử dụng 
 
Ngày 30 tháng 01 năm 2018, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 10/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16 tháng 6 năm 2014 Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất và Thông tư số 11/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước 
 
Góp ý dự thảo Quyết định ban hành quy định hạn mức đất và chế độ quản lý việc xây dựng phần mộ, tượng đài, bia tưởng niệm trong nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn tỉnh Bến Tre của Ủy ban nhân dân tỉnh 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Hưởng ứng Ngày Đất ngập nước thế giới năm 2011Hưởng ứng Ngày Đất ngập nước thế giới năm 2011
Ngày 23 tháng 02, tại xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri, Chi cục Bảo vệ môi trường và Trường Cao đẳng Bến Tre phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri tổ chức mitting hưởng ứng Ngày đất ngập nước thế giới năm 2011.



Cách đây 40 năm, thế giới chính thức thông qua Công ước về Các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đã được ký ngày 02 tháng 02 năm 1971 tại thành phố Ramsar, Iran. Để kỷ niệm ngày trọng đại này, các quốc gia thành viên đã thống nhất chọn ngày 02 tháng 02 là Ngày đất ngập nước thế giới. Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực đã phê chuẩn Công ước Ramsar từ năm 1989 và là một trong 156 quốc gia tham gia công ước này.
Bến Tre được đánh giá là một trong những tỉnh có đa dạng sinh học cao của Việt Nam. Trên địa bàn tỉnh có 02 hệ sinh thái đất ngập nước đặc trưng của vùng cửa sông ven biển, tiêu biểu cho vùng đồng bằng sông Cửu Long là Sân chim Vàm Hồ và Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú.
Sân chim Vàm Hồ nằm trên địa bàn xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Người ta biết đến vùng đất này từ hơn 100 năm nay với tên gọi là cù lao Lá. Vàm Hồ là địa điểm lý tưởng cho các loài thực vật phát triển tạo thành một dãy rừng rộng hàng chục ha xuôi theo dòng Ba Lai; là nơi trú ngụ của hàng nghìn con cò, vạc và nhiều loại chim khác. Sân chim Vàm Hồ là cảnh quan độc đáo, nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá của tỉnh Bến Tre.
Nhằm nâng cao nhận thức về các giá trị, lợi ích của đất ngập nước nói chung, khuyến khích bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước, Chi cục Bảo vệ môi trường và Trường Cao đẳng Bến Tre phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri tổ chức mitting hưởng ứng Ngày đất ngập nước thế giới năm 2011.
Phát biểu tại buổi lễ, Ông Đoàn Văn Phúc - Chi cục Trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường đã nhấn mạnh đến vai trò các vùng đất ngập nước trong phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai, tích lũy và hạn chế ô nhiễm môi trường, điều hòa khí hậu, duy trì đa dạng sinh học và góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu. Đồng thời, Ông Đoàn Văn Phúc kêu gọi các ngành, các cấp và người dân của tỉnh và xã Tân Mỹ nói riêng hãy cùng nhau ra sức gìn giữ và bảo vệ các vùng đất ngập nước trên địa bàn tỉnh.
Phát biểu chỉ đạo và hưởng ứng kỷ niệm Ngày đất ngập nước, Ông Dương Minh Tùng - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri kêu gọi các phòng, ban, các đoàn thể và cộng đồng; đặc biệt là Ủy ban nhân dân xã Tân Mỹ thực hiện các công việc sau:
- Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát triển hệ sinh thái vùng đất ngập nước trên địa bàn. Triển khai sâu rộng trong nội bộ cán bộ công nhân viên chức và trong các tầng lớp nhân dân nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi và cách ứng xử của con người đối với thiên nhiên.
- Tăng cường lực lượng bảo vệ khu vực sân chim Vàm Hồ. Ngăn chặn kịp thời mọi hành vi săn bắn trái phép làm suy thoái hệ sinh thái đất ngập nước trong khu vực. Xử lý nghiêm những trường hợp cố tình vi phạm nhằm góp phần bảo vệ và phát triển các hệ sinh thái sân chim Vàm Hồ.
- Kịp thời bổ sung lượng thức ăn cho các loài động vật trong hệ sinh thái nhằm thu hút các loài động vật từ nơi khác đến sinh sản và phát triển. Có kế hoạch trồng thêm các loại cây thích hợp để làm nơi trú ngụ cho các loài động vật.
- Tiếp tục kiện toàn Ban quản lý sân chim Vàm Hồ. Tăng cường năng lực của các cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ. Xây dựng Ban quản lý theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Đảm bảo thực hiện nhiệm vụ được phân công.
- Đẩy mạnh công tác phòng cháy và chữa cháy tại khu vực sân chim Vàm Hồ. Huy động kịp thời lực lượng chữa cháy, các trang thiết bị để xử lý sự cố.
Lễ kỷ niệm Ngày đất ngập nước thế giới năm 2011 kết thúc bằng những hoạt động ý nghĩa và thiết thực như thả cá vào sân chim Vàm Hồ với ý nghĩa giữ gìn đa dạng sinh học chính là giữ gìn môi trường sống và diễu hành xung quanh sân chim Vàm Hồ.


25/02/2011 12:00 SAĐã ban hành
Góp ý Quy chế phân công, phân cấp trách nhiệm và phối hợp trong quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Bến TreGóp ý Quy chế phân công, phân cấp trách nhiệm và phối hợp trong quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Góp ý Quy chế phân công, phân cấp trách nhiệm và phối hợp trong quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Sở Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì thực hiện soạn thảo dự thảo Quy chế phân công, phân cấp trách nhiệm và phối hợp trong quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Ý kiến góp ý của các đơn vị gửi bằng văn bản về Sở Tài nguyên và Môi trường, Số 01, Trần Quốc Tuấn, Phường 2, thành phố Bến Tre (Điện thoại: 02753 813240) trước ngày 13 tháng 10 năm 2018 để Sở tổng hợp, hoàn chỉnh và trình Ủy ban nhân dân tỉnh.
DU_THAO_HOAN_CHINH.doc
To_trinh_quy_che.docx
12/10/2018 5:00 CHĐã ban hành
CHẤT THẢI CÔNG NGHIỆP – HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÝCHẤT THẢI CÔNG NGHIỆP – HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÝ
Nhằm kiểm tra và đánh giá việc thực hiện các nội dung, biện pháp bảo vệ môi trường trong báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản cam kết bảo vệ môi trường đã được phê duyệt, của các dự án, doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Bến Tre, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành kiểm soát ô nhiễm môi trường 11 doanh nghiệp sau: Cảng cá Bình Đại, Cảng cá Ba Tri, Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Bến Tre, Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Lâm thủy sản Bến Tre, Nuôi cá tra công nghiệp (Công ty thủy sản Hải Hương), Công ty TNHH Covina, Công ty cổ phần may Nam Long, Công ty TNHH may mặc Alliance One, Công ty TNHH dừa Định Phú Mỹ, Nhà máy chế biến dừa Thành Vinh (DNTN Ép dầu Lương Quới), Trung tâm sản xuất tôm giống Huy Thuận (Công ty TNHH Tư vấn thủy sản Huy Thuận).



Các doanh nghiệp được kiểm tra đều có qui mô sản xuất lớn, nhiều loại hình, đồng thời phát sinh một lượng chất thải rất lớn, nếu các cơ sở không có biện pháp thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc cơ sở hạ tầng trong các khu, cụm công nghiệp không đáp ứng được nhu cầu cần thiết cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải của các dự án, doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn môi trường, sẽ gây ô nhiễm môi trường.
Trong 11 doanh nghiệp được kiểm tra thì có 6 doanh nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường hoặc sự cố môi trường nghiêm trọng, có 2 doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài, nhưng ý thức và công tác bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp này chưa được quan tâm đúng mức.
Cụ thể có 7 doanh nghiệp không có biện pháp thu gom, xử lý nước thải sản xuất, nước thải được thải trực tiếp ra sông hoặc mặt bằng khu công nghiệp, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí. Có 3 doanh nghiệp không có biện pháp thu gom, xử lý rác thải sản xuất, rác thải được tập trung ở bờ sông hoặc để rơi vãi vào hệ thống xử lý nước thải, làm giảm hiệu suất xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước sông. Có 6 doanh nghiệp sử dụng lò hơi trong quá trình sản xuất, thì có đến 3 doanh nghiệp có lò hơi gây ô hiễm môi trường xung quanh do khói, bụi chưa được xử lý triệt để. Các loại chất thải này thải vào môi trường làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân, công nhân của các dự án, doanh nghiệp.
Ngoài ra, tất cả các doanh nghiệp được kiểm tra đều chưa thực hiện chương trình giám sát môi trường theo nội dung Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc Bản cam kết bảo vệ môi trường đã được phê duyệt. Có 7 doanh nghiệp chưa thực hiện kê khai và nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp theo Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí Bảo vệ môi trường đối với nước thải. Có 4 doanh nghiệp bị các hộ dân và tổ chức lân cận khiếu nại, tố cáo về các hành vi gây ô nhiễm môi trường do không xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường qui định.
Qua kết quả kiểm tra này cho thấy ý thức bảo vệ môi trường của các dự án, doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Bến Tre rất kém, dẫn đến môi trường sống của tỉnh nói chung và môi trường xung quanh các dự án, doanh nghiệp này nói riêng ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng, do chất thải công nghiệp chưa được xử lý, thải trực tiếp ra môi trường. Do đó, các ngành, các cấp cần quan tâm hơn nữa đối với công tác quản lý môi trường thuộc lĩnh vực, ngành, cấp mình quản lý, để từng bước nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của các dự án, doanh nghiệp.
Nhằm bảo vệ môi trường của các khu công nghiệp và các khu dân cư sống xung quanh, Công ty Phát triển hạ tầng các Khu công nghiệp tỉnh Bến Tre cần phối hợp với Ban Quản lý các khu công nghiệp và các ngành, các cấp có liên quan nhanh chóng hoàn thiện hệ thống thu gom, xử lý chất thải tại Khu công nghiệp Giao Long và xây dựng hệ thống thu gom, xử lý chất thải cho Cụm công nghiệp An Hiệp, đặc biệt là vấn đề thu gom, xử lý nước thải. Đồng thời, tạo thuận lợi cho các dự án, doanh nghiệp hoạt động trong 2 khu công nghiệp này trong quá trình thu gom, xử lý chất thải.
Riêng ngành tài nguyên và môi trường sẽ thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát môi trường các dự án, doanh nghiệp đang, sẽ hoạt động trên địa bàn tỉnh Bến Tre và xử lý nghiêm mọi trường hợp vi phạm các qui định của Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản có liên quan về xả thải chất thải chưa được xử lý ra môi trường, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.
Để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng hiện nay về các sản phẩm xanh, sạch, mở ra được nhiều cơ hội thị trường mới, sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn và có thể bán ra thị trường với giá cao hơn, đồng thời giúp các dự án, doanh nghiệp có thể cải thiện hiệu suất sản xuất; sử dụng nguyên liệu, nước, năng lượng có hiệu quả; giảm ô nhiễm; giảm chi phí xử lý và thải bỏ các chất thải rắn, nước thải, khí thải; tạo nên hình ảnh doanh nghiệp tốt hơn và cải thiện sức khoẻ nghề nghiệp và an toàn, thì các dự án, doanh nghiệp cần phải ứng dụng các phương pháp quản lý sản xuất mới vào thực tế hoạt động của mình.
Mai Hanh



18/06/2008 12:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  từ ngày 15/9/2018 đến ngày 24/9/2018Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  từ ngày 15/9/2018 đến ngày 24/9/2018
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  từ ngày 15/9/2018 đến ngày 24/9/2018
26/09/2018 11:00 SAĐã ban hành
Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP và sửa đổi, bổ sung một số điều của 07 Thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đaiThông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP và sửa đổi, bổ sung một số điều của 07 Thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai
Ngày 29 tháng 9 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai

            Ngày 29 tháng 9 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai. Thông tư quy định chi tiết các nội dung cụ thể như sau:

              Thứ nhất, Thông tư quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai.

           Trong đó, hướng dẫn cụ thể việc xác nhận hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; việc sử dụng đất trong dự án sản xuất, kinh doanh theo phương thức thỏa thuận mua tài sản gắn liền với đất, nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn; việc thực hiện các dịch vụ của Văn phòng Đăng ký đất đai;…

            Thứ hai, Thông tư quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của 07 thông tư cụ thể sau:

           1) Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

            Trong đó, sửa đổi, bổ sung một số nội dung như: xây dựng quy định về yếu tố chống giả trên phôi Giấy chứng nhận; thể hiện thông tin trên Giấy chứng nhận đối với trường hợp chứng nhận quyền sở hữu công trình trên đất nông nghiệp; hướng dẫn cách ghi trên Giấy chứng nhận đối với trường hợp Văn phòng Đăng ký đất đai và Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai được ủy quyền ký cấp Giấy chứng nhận….

            2) Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 quy định về hồ sơ địa chính;

           Trong đó, sửa đổi, bổ sung một số nội dung như: quy định hướng dẫn về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích tăng thêm so với giấy tờ về quyền sử dụng đất; về đăng ký quyền sử dụng đất cho tổ chức mua bán nợ theo quy định tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội; về từ chối hồ sơ đề nghị đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;…

          3) Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 quy định về bản đồ địa chính;

          Trong đó hướng dẫn xử lý, giải quyết cụ thể đối các trường hợp đo đạc mà người sử dụng đất vắng mặt hoặc người sử dụng đất nhận Bản mô tả ranh giới, mốc giới mà không ký xác nhận…

          4) Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất;

           Trong đó, hướng dẫn hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ và đất rừng đặc dụng để thực hiện dự án đầu tư; Hồ sơ điều chỉnh quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đã ban hành trước ngày 01 tháng 7 năm 2004;…

        5) Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 quy định chi tiết phương pháp định giá đất, xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất, định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất;

      Trong đó, sửa đổi, bổ sung về phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất đã được quy định tại Điều 7 của Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT;…

     6) Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

       Trong đó, sửa đổi, bổ sung việc xác định diện tích đất nông nghiệp để tính hỗ trợ ổn định đời sống khi Nhà nước thu hồi đất; Giá đất làm căn cứ tính hỗ trợ cho người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước nằm trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ; Bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng;…

        7) Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27 tháng 01 năm 2015 quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ.

        Trong đó, sửa đổi, bổ sung các trường hợp chuyển mục đích không phải xin phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Việc sử dụng đất đối với trường hợp chuyển đổi công ty, chuyển doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn;…

        Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 12 năm 2017, bãi bỏ Điều 23 của Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT, Điều 12 và Điều 14 của Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT./.

Nguyễn Khắc Phương

TT_33_2017_TT-BTNMT_HD_(ND01).pdf

15/11/2017 9:00 SAĐã ban hành
BÀN GIAO FILE BẢN ĐỒ QUY HOẠCHBÀN GIAO FILE BẢN ĐỒ QUY HOẠCH
Ngày 08/01/2007, Trung tâm Thông tin thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành bàn giao file bản đồ quy hoạch



- Ngày 08/01/2007, Trung tâm Thông tin thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành bàn giao files bản đồ quy hoạch đô thị Thị xã Bến Tre cho Phòng Tài nguyên và Môi trường Thị xã. Các files bản đồ này trước đây do Sở Xây dựng thực hiện trên phần mềm Autocad(*.dwg) nên chưa tham chiếu trực tiếp được đến các thửa đất trên bản đồ địa chính. Từ tháng 9-2004, Trung tâm Thông tin Tài nguyên và Môi trường tiếp nhận các files bản đồ này và biên tập, chồng ghép lên bản đồ địa chính trên phần mềm chuyên ngành địa chính là Microstation(*.dgn) để xác nhận thông tin quy hoạch được đến từng thửa đất cho người sử dụng đất.


- Trong thời gian tới, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ có kế hoạch biên tập, chồng ghép các files bản đồ quy hoạch xây dựng đã hoàn thành ở các thị trấn, khu dân cư, khu đô thị mới… lên bản đồ địa chính để chuyển giao cho các địa phương thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất đai được hiệu quả vì mục đích phục vụ nhân nhân ngày càng tốt hơn./.


Trung tâm Thông tin



19/09/2007 12:00 SAĐã ban hành
GIS là gì ?GIS là gì ?
Kỹ thuật "Thông tin Địa lý" (Geograpgic Information System) đã bắt đầu được<br />sử dụng rộng rãi ở các nước phát triển hơn một thập niên qua, đây là một dạng ứng dụng  công  nghệ  tin  học  (Information  Technology)  nhằm  mô  tả  thế  giới  thực  (Real world) mà loài người đang sống-tìm hiểu-khai thác. Với những tính năng ưu việt, kỹ thuật GIS ngày nay đang được ứng dụng trong nhiều lãnh vực nghiên cứu và quản lý, đặc biệt trong quản lý và quy hoạch sử dụng-khai thác các nguồn tài nguyên một cách bền vững và hợp lý.


Sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin đã đưa tin học thâm nhập sâu vào nhiều lĩnh vực khoa học và đời sống, mở ra một giai đoạn mới trong quá trình phát triển khoa học. Hệ thống thông tin địa lý là một trong những ứng dụng rất có giá trị của công nghệ tin học trong ngành địa lý, điều tra cơ bản, quy hoạch đô thị và cảnh báo môi trường.
Kỹ thuật GIS đã được bắt đầu sử dụng rộng rãi ở các nước phát triển hơn một thập niên qua, với những tính năng ưu việt, kỹ thuật GIS ngày nay đang được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu và quản lý.
Hệ thống thông tin địa lý là một kỹ thuật ứng dụng hệ thống vi tính số hoá, xuất hiện trong những năm 1960 cho đến nay công nghệ này được biết đến như là một kỹ thuật toàn cầu.
Trong sự phát triển của đất nước ta hiện nay, việc tổ chức quản lý thông tin địa lý một cách tổng thể có thể đóng góp không nhỏ vào việc sử dụng có hiệu quả hơn nguồn tài nguyên của đất nước.

LỢI ÍCH VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CỦA VIỆC SỬ
DỤNG KỸ THUẬT GIS:

Kỹ thuật GIS là một công nghệ ứng dụng các tiến bộ của khoa học máy tính, (computer based technology) do đó việc sử dụng GIS trong các mục tiêu nghiên cứu so với các phương tiện cổ điển có thể mang lại những hiệu quả cao do:
Là cách tiết kiệm chi phí và thời gian nhất trong việc lưu trữ số liệu

Có thể thu thập số liệu với số lượng lớn
Số liệu lưu trữ có thể được cập nhật hoá một cách dễ dàng
Chất lượng số liệu được quản lý, xử lý và hiệu chỉnh tốt
Dễ dàng truy cập, phân tích số liệu từ nhiều nguổn và nhiều loại khác nhau
Tổng hợp một lần được nhiều loại số liệu khác nhau để phân tích và tạo ra nhanh chóng một lớp số liệu tổng hợp mới
Tuy nhiên, có những trở ngại xuất hiện trong quá trình sử dụng kỹ thuật GIS, những trở ngại này đặc biệt quan trọng là cần được cân nhắc thận trọng trong quá trình phát triển GIS tại các nước kém và đang phát triển như Việt Nam, đó là:
Chi phí và những vấn đề kỹ thuật đòi hỏi trong việc chuẩn bị lại các số liệu thô hiện có, nhằm có thể chuyển từ bản đổ dạng giấy truyền thống sang dạng kỹ thuật số trên máy tính (thông qua việc số hoá, quét ảnh...)
Đòi hỏi nhiều kiến thức của các kỹ thuật cơ bản về máy tính, và yêu cầu lớn về nguồn tài chính ban đầu.
Chi phí của việc mua sắm và lắp đặt thiết bị và phần mềm GIS khá cao.
Trong một số lĩnh vực ứng dụng, hiệu quả tài chánh thu lại thấp.
Đặc biệt trong nông nghiệp, GIS có 3 điểm thuận lợi chính khi được so sánh với cách quản lý bản đổ bằng tay trước đây:
Chúng là một công cụ khá mạnh trong việc lưu trữ và diễn đạt các số liệu đặc biệt là các bản đổ.
Chúng có thể cho ra những kết quả dưới những dạng khác nhau như các bản đổ, biểu bản, và các biểu đổ thống kê,..
Chúng là một công cụ đắc lực cho các nhà khoa học đặc biệt về lãnh vực nghiên cứu hệ thống canh tác, đánh giá đất đai, khả năng thích nghi của các kiểu sử dụng đất, quản lý và xử lý các bản đồ giai thửa trong quản lý đất đai,..Nó giúp cho các nhà làm khoa học đó khả năng phân tích các nguyên nhân và những ảnh hưởng và kiểm chứng những biến đổi trong hệ thống sinh thái cũng như khả năng thích ứng của việc thay đổi một chính sách đối với người dân.

CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ
THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ-GIS:

Hệ thống thông tin địa lý trước hết là một hệ thống thông tin cũng như các hệ thống thông tin khác, ví dụ như thương mại, pháp luật, ngân hàng, ... Các hệ thống thông tin nói chung đều bao gồm các phần:
Hệ thống thiết bị phần cứng bao gồm máy tính hoặc hệ mạng máy tính, các thiết bị đầu vào, các thiết bị đầu ra.
Hệ thống phần mềm bao gồm phần mềm hệ thống, phần mềm quản trị, phần mềm ứng dụng.
Hệ thống thông tin đầu vào và hệ thống cập nhật thông tin.
Hệ thống CSDL bao gồm các loại dữ kiện cần thiết.
Hệ thống hiển thị thông tin và giao diện với người sử dụng
Sự khác nhau giữa hệ thống thông tin địa lý với các hệ thống thông tin khác chỉ ở hai điểm sau:
CSDL bao gồm các dữ liệu địa lý và các dữ liệu thuộc tính (các dữ liệu chữ - số, dữ liệu multimedial,... ) và mối quan hệ giữa hai loại dữ liệu này.
Hệ thống thông tin đầu vào và hệ thống hiển thị thông tin đòi hỏi những đặc thù riêng về độ chính xác.

Hình 5.1: Sự thể hiện quang cảnh sự vật dưới các lớp bản đồ khác nhau
Một hệ thống thông tin địa lý có thể bao gồm các đặc điểm chính sau:

KHẢ NĂNG CHỒNG LẤP CÁC BẢN ĐỒ (Map
Overlaying):

Việc chồng lắp các bản đồ trong kỹ thuật GIS là một khả năng ưu việt của GIS trong việc phân tích các số liệu thuộc về không gian, để có thể xây dựng thành một bản đồ mới mang các đặc tính hoàn toàn khác với bản đồ trước đây.

Hình 5.2: Nguyên lý khi chồng lắp các bản đồ

Hình 5.3: Việc chồng lắp các bản đồ theo phương pháp cộng

Hình 5.4: Một thí dụ trong việc chồng lắp các bản đồ.

KHẢ NĂNG PHÂN LOẠI CÁC THUỘC TÍNH (Reclassification):

Một trong những điểm nổi bật trong tất cả các chương trình GIS trong việc phân tích các thuộc tính số liệu thuộc về không gian là khả năng của nó để phân loại các thuộc tính nổi bật của bản đồ. Nó là một quá trình nhằm chỉ ra một nhóm thuộc tính thuộc về một cấp nhóm nào đó. Một lớp bản đồ mới được tạo ra mang giá trị mới, mà nó được tạo thành dựa vào bản đồ trước đây.
Việc phân loại bản đồ rất quan trọng vì nó cho ra các mẩu khác nhau. Một trong những điểm quan trọng trong GIS là giúp để nhận biết được các mẩu đó. Đó có thể là những vùng thích nghi cho việc phát triển đô thị hoặc nông nghiệp mà hầu hết được chuyển sang phát triển dân cư. Việc phân loại bản đồ có thể được thực hiện trên 1 hay nhiều bản đồ..

Hình 5.5: Một thí dụ trong việc phân loại lại một bản đồ

TỔ CHỨC CƠ SỞ DỮ LIỆU TRONG GIS
:

Chức năng của hệ thống thông tin địa lý là để cải thiện khả năng người sử dụng để đánh giá đưa đến sự quyết định trong nghiên cứu, qui hoạch và quản lý. Để sắp xếp cho một số hệ thống thông tin, người sử dụng cần phải được cung cấp dữ liệu một cách đầy đủ và hữu hiệu, điều này đạt được bởi phương pháp của hệ thống quản lý dữ liệu (DBMS). Một DBMS có thể được định nghĩa như sau:
Một sự liên kết các dữ liệu đã lưu trữ cùng với nhau mà không gây một trở ngại hoặc việc làm dư thừa không cần thiết nhằm giúp ích cho chương trình được gia tăng khả năng sử dụng lên gấp bội; dữ liệu được lưu trữ để chúng là chương trình độc lập mà dữ liệu được sử dụng một cách phổ biến, và việc điều khiển trong việc thêm dữ liệu mới, hoặc sửa đổi và khôi phục dữ kiện hiện có bên trong hệ thống dữ liệu. Dữ liệu được kết cấu như thế để cung cấp một nền tảng cho việc phát triển sau này "(Martin, 1977)

CÁC LOẠI THÔNG TIN TRONG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ:

Như trên đã giới thiệu dữ liệu trong hệ thống thông tin địa lý bao gồm dữ liệu địa lý và dữ liệu thuộc tính:
Dữ liệu địa lý: bao gồm các thể loại
Ảnh hàng không vũ trụ
Bản đồ trực ảnh (orthophotomap)
Bản đồ nền địa hình lập từ ảnh hàng không - vũ trụ
Bản đồ địa hình lập từ số liệu đo đạc mặt đất
Bản đồ địa chính
Bản đồ địa lý tổng hợp từ các loại bản đồ địa hình.
Các loại ảnh và bản đồ nói trên đều ở dạng số và lưu lại dưới dạng vector hoặc raster hỗn hợp raster-vector. Các dữ liệu địa lý dưới dạng vector được phân lớp thông tin yêu cầu của việc tổ chức các thông tin. Thông thường người ta hay phân lớp theo tính chất thông tin: lớp địa hình, lớp thuỷ văn, lớp đường giao thông, lớp dân cư, lớp thức phụ, lớp giới hành chính v.v.. Trong nhiều trường hợp để quản lý sâu hơn, người ta sẽ phân lớp chuyên biệt hơn như trong lớp thuỷ văn được phân thành các lớp con các lớp sông lớn, sông nhỏ, lớp biển, lớp ao hồ,v.v…
Các thông tin ở dạng raster là các thông tin nguồn và các thông tin hỗ trợ, không gian quản lý như một đối tượng địa lý. Các thông tin ở dạng vector tham gia trực tiếp quản lý và được định nghĩa như những đối tượng địa lý. Các đối tượng này thể hiện ở 3 dạng: điểm, đường và vùng hoặc miền. Mỗi đối tượng đều có thuộc tính hình học riêng như kích thước, miền vị trí. Vấn đề được đặt ra là tổ chức lưu trữ và hiển thị các thông tin vector như thế nào để thoả mãn các yêu cầu sau:
Thể hiện đầy đủ các thông tin cần thiết
Độ dư và độ thừa nhỏ nhất
Truy cập thông tin nhanh
Cập nhật thông tin dễ dàng và không sai sót (xoá bỏ thông tin không cần thiết, bổ sung thông tin mới , chỉnh lý các thông tin đã lạc hậu)
Thuận lợi cho việc hiển thị thông tin
Dữ liệu thuộc tính (Attribute): là các thông tin giải thích cho các hiện tượng địa lý gắn liền với hiện tượng địa lý. Các thông tin này được lưu trữ dữ liệu thông thường. Vấn đề đặt ra là là phải tìm mối quan hệ giữa thông tin địa lý và thông tin thuộc tính. Từ thông tin ta có thể tìm ra được các thông tin kia trong cơ sở dữ liệu.

HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU CỦA GIS
:

Giới thiệu
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu là hệ thống quản lý, lưu trữ, bảo trì toàn bộ cơ sở dữ liệu. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu cũng cung cấp các công cụ cho phép người dùng hỏi đáp, tra cứu và tác động vào cơ sở dữ liệu. Cơ sở dữ liệu cho một hệ thống GIS bao gồm 2 cơ sở dữ liệu thành phần chính là :
Cơ sở dữ liệu địa lý (không gian)
Cơ sở dữ liệu thuộc tính (phi không gian)
Trong hệ thống GIS, hệ quản trị cơ sở dữ liệu GIS được xây dựng bao gồm 2 hệ quản trị cơ sở dữ liệu riêng cho từng phần hoặc xây dựng một hệ quản trị cơ sở dữ liệu chung cho cả hai cơ sở dữ liệu con kể trên. Thông thường hệ quản trị cơ sở dữ liệu GIS được xây dựng bao gồm 3 hệ quản trị cơ sở dữ liệu con:
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu cho cơ sở dữ liệu địa lý.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ ở mức tra cứu, hỏi đáp. Hệ này được tích hợp cùng với hệ quản trị cơ sở dữ liệu địa lý cho phép người ta dùng truy nhập dữ liệu địa lý và dữ liệu thuộc tính đồng thời. Tuy nhiên, hệ quản trị cơ sở dữ liệu này cho thao tác trên cơ sở dữ liệu thuộc tính bị hạn chế.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu thuộc tính. Thông thường các hệ thống GIS đều lấy một hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ hiện có để quản trị và thực hiện các bài toán trên dữ liệu thuộc tính mà không liên quan đến dữ liệu không gian. Ví dụ: FOX, MS SQL, ORACLE.
Về hệ quản trị cơ sở dữ liệu quản lý cơ sở dữ liệu thuộc tính, chúng ta đã xem xét chi tiết trong phần “Hệ thống cơ sở dữ liệu“. Vì vậy, ở đây chúng ta chỉ đi sâu vào hệ quản trị cơ sở dữ liệu cho dữ liệu không gian.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu cho dữ liệu không gian bao gồm các hệ thống con sau:
Hệ thống nhập bản đồ
Hệ thống hiển thị bản đồ
Hệ thống tra cứu, hỏi đáp cơ sở dữ liệu
Hệ thống phân tích địa lý
Hệ thống phân tích thống kê
Hệ thống đầu ra
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu GIS
Hệ thống nhập bản đồ
Hệ thống cung cấp các công cụ để số hoá các đối tượng trên bản đồ. Hiện nay tồn tại hai phương pháp để chuyển bản đồ giấy thành bản đồ số:
Số hoá bản đồ: dùng bàn vẽ (digitizer) đi lại các đối tượng bản đồ trên giấy. Chức năng có thể có trong bản thân hệ thống hoặc dùng 1 phần mềm khác số hoá, sau đó nhập vào kết quả số hoá bởi phần mềm đó.
Vector hoá bản đồ: Bản đồ được quét vào thành dạng file ảnh (scanning) sau đó chuyển sang dạng vector (vectorizing). Quá trình vectorizing có thể thực hiện thủ công qua số hoá trên màn hình (head up digitizing) hoặc dùng phần mềm chuyển tự động/bán tự động từ ảnh sang vector.
Một trong những nguồn dữ liệu quan trọng là dữ liệu được nhập từ các hệ thống khác. Vì vậy hệ thống nhập bản đồ phải có chức năng nhập (import) các dạng (format) dữ liệu khác nhau.
Hệ thống hiển thị bản đồ
Hệ thống cung cấp các khả năng hiển thị bản đồ trên màn hình cho người sử dụng xem. Hiện nay chức năng hiển thị bản đồ đều có khả năng cung cấp cách nhìn 3 chiều (3D). Bản đồ sẽ được thể hiện sinh động, trực quan hơn.
Tra cứu, hỏi đáp cơ sở dữ liệu
Hệ thống cung cấp các công cụ cho người sử dụng tra cứu, hỏi đáp, lấy các thông tin cần thiết trong cơ sở dữ liệu ra. Hệ thống này ảnh hưởng trực tiếp đến tính hiệu quả của hệ thống. Bởi vì phần lớn, người dùng chỉ có yêu cầu tra cứu thông tin. Hệ thống tra cứu phải mềm dẻo, dễ sử dụng, thời gian truy cập dữ liệu nhanh. Hệ thống cho phép tra cứu trên cả hai dữ liệu: dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính
Hệ thống xử lý, phân tích địa lý
Đây là hệ thống thể hiện rõ nhất sức mạnh của GIS. Hệ thống cung cấp các công cụ cho phép người dùng xử lý, phân tích dạng dữ liệu không gian. Từ đó, chúng ta có thể sản sinh ra các thông tin mới (thông tin dẫn suất)
Hệ thống phân tích thống kê
Hệ thống cung cấp các công cụ thống kê trên dữ liệu không gian cũng như dữ liệu thuộc tính. Tuy nhiên các phép phân tích thống kê trên dữ liệu không gian khác biệt so với một số phép phân tích thống kê thông thường trên dữ liệu phi không gian.
Hệ thống in ấn bản đồ
Hệ thống có nhiệm vụ in các bản đồ kết quả ra các thiết bị ra thông dụng như máy in (printer), máy vẽ (Plotter). Yêu cầu đối với hệ thống này là tương thích với nhiều loại thiết bị ngoại vì hiện có trên thị trường.
Huỳnh Đoàn Minh (Sưu tầm và tổng hợp)



28/01/2008 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo Về việc hủy Phôi Giấy chứng nhận viết bị hư hỏng trong quá trình quản lý và in, viết Giấy chứng nhậnThông báo Về việc hủy Phôi Giấy chứng nhận viết bị hư hỏng trong quá trình quản lý và in, viết Giấy chứng nhận
Thông báo Về việc hủy Phôi Giấy chứng nhận viết bị hư hỏng trong quá trình quản lý và in, viết Giấy chứng nhận

​Hội đồng hủy phôi Giấy chứng nhận Sở Tài nguyên và Môi trường đã kiểm tra và lập biên bản tiêu hủy 13.082 phôi Giấy chứng nhận bị hư hỏng trong quá trình quản lý và in, viết giấy chứng nhận trên địa bàn tỉnh Bến Tre, cụ thể như sau:

- Giấy chứng nhận hư hỏng đã viết trước và năm 2016: 10.268 phôi;

- Giấy chứng nhận hư hỏng đã viết năm 2017: 1.625 phôi;

- Giấy chứng nhận hư hỏng đã viết năm 2018: 1.189 phôi.

Danh sách chi tiết kèm theo:

3498_2018_signed430.pdf

danh_sach_huy_phoi_GCN-BEN_TRE.xlsx

11/12/2018 9:00 SAĐã ban hành
Quyết định số 40/2018/QĐ-UBND về việc góp quyền sử dụng đất và điều chỉnh lại quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bến TreQuyết định số 40/2018/QĐ-UBND về việc góp quyền sử dụng đất và điều chỉnh lại quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Quyết định số 40/2018/QĐ-UBND về việc góp quyền sử dụng đất và điều chỉnh lại quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Ngày 15 tháng 10 năm 2018, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 40/2018/QĐ-UBND về việc góp quyền sử dụng đất và điều chỉnh lại quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Quyết định quy định về việc góp quyền sử dụng đất và điều chỉnh lại quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư theo quy định tại Điều 49a Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy đinh chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai được bổ sung tại Khoản 34 Điều 2 Nghị định số 01/2107/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai.

Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất được nêu trong Quyết định số 40/2018/QĐ-UBND thuộc trường hợp quy định tại điểm i Điều 179 của Luật Đất đai năm 2013 (thuộc diện thu hồi đất để thực hiện dự án) thì bên cạnh có các quyền tự đầu tư trên đất hoặc cho chủ đầu tư dự án thuê quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất với chủ đầu tư dự án để thực hiện dự án theo quy định của Chính phủ còn có thêm quyền được góp quyền sử dụng đất với chủ đầu tư thông qua hợp đồng góp quyền sử dụng đất giữa người sử dụng đất và chủ đầu tư thực hiện dự án. Hợp đồng góp quyền sử dụng đất phải được công chứng, chứng thực theo quy định tại Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.

Khi thực hiện góp quyền sử dụng đất thì bên góp quyền sử dụng đất và bên nhận góp quyền sử dụng đất sẽ được điều chỉnh lại quyền sử dụng đất theo quy địnhh của Bộ Luật Dân sự và Luật Đất đai và các các thỏa thuận khác của các bên tham gia hợp đồng góp quyền sử dụng đất.

Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 26 tháng 10 năm 2018./.

QD 40.QD-UBND (2018) - Quy dinh gop quyen su dung dat.pdf

21/11/2018 2:00 CHĐã ban hành
Kế hoạch thực hiện Đề án xử lý, di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre trong năm 2010Kế hoạch thực hiện Đề án xử lý, di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre trong năm 2010
Ngày 07 tháng 7 năm 2010, Trưởng Ban chỉ đạo thực hiện Đề án xử lý, di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre đã ban hành Kế hoạch số 2687/KH-BCĐ về thực hiện Đề án Bổ sung xử lý, di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre trong năm 2010.



Kế hoạch thực hiện Đề án trong năm 2010 đã vạch ra 03 mục tiêu phấn đấu: Hoàn thành việc xử lý 90% cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm trên địa bàn nội thành thành phố Bến Tre. 90% cơ sở đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải tại chỗ, đảm bảo chất thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn Việt Nam, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Chọn, xác định địa điểm và diện tích mặt bằng quy hoạch di dời các cơ sở ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre, đảm bảo ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh.
Các nhiệm vụ chính thực hiện Đề án trong năm 2010:
- Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội thành phố Bến Tre.
- Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban chỉ đạo thực hiện Đề án bổ sung xử lý, di dời các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre; Quy định một số chính sách tài chính cho việc xử lý môi trường và di dời các cơ sở ra khỏi thành phố Bến Tre và Quy định các ngành nghề sản xuất, kinh doanh không cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; cấp mới hoặc điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư trong nội thành thành phố Bến Tre theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội thành phố Bến Tre.
- Tiếp tục rà soát, thống kê số lượng cơ sở trên địa bàn nội thành thành phố Bến Tre xử lý chất thải tại chỗ hoặc bắt buộc di dời và yêu cầu các cơ sở xử lý chất thải tại chỗ đăng ký Bản cam kết xử lý chất thải tại chỗ.
- Chọn, xác định địa điểm ổn định, lâu dài và diện tích mặt bằng quy hoạch di dời các cơ sở ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre. Hạn chế các cơ sở tự di dời đến địa điểm mới không phù hợp với quy hoạch, ảnh hưởng đến sự phát triển các khu đô thị mới trong tương lai.
- Hướng dẫn các cơ sở lập hồ sơ thủ tục để hưởng chính sách hỗ trợ xử lý chất thải tại chỗ hoặc di dời.
- Tiến hành kiểm tra các công trình xử lý chất thải của các cơ sở cam kết xử lý tại chổ và xây dựng lịch trình di dời của các cơ sở bắt buộc phải di dời.
- Nghiên cứu, lựa chọn, giới thiệu mô hình xử lý chất thải phù hợp điều kiện thực tế của các cơ sở.
Để đạt được các mục tiêu và nhiệm vụ trên, các cấp Ủy Đảng, chính quyền các cấp và các sở, ban, ngành, đoàn thể có liên quan phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được phân công theo nội dung kế hoạch đã đề ra.
Đến hết tháng 9 năm 2010, các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm trên địa bàn nội thành thành phố Bến Tre phải đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống xử lý chất thải, đảm bảo chất thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn Việt Nam hoặc Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường hiện hành.
Trong quý 4/năm 2010, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre tiến hành thanh tra, kiểm tra xử lý các cơ sở chưa xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn Việt Nam hoặc quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.
Theo Quyết định số 386/QĐ-UBND ngày 26 tháng 02 năm 2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Đề án bổ sung xử lý, di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội ô thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre); quy định các loại hình có thể đầu tư hệ thống xử lý chất thải tại chổ: cơ sở sản xuất, kinh doanh kẹo dừa và thạch dừa; loại hình bắt buộc phải di dời: cơ sở gia công cơ khí, mộc, cắt xẻ đá hoa cương; cưa xẻ gỗ; chăn nuôi và giết mổ gia súc; sản xuất mạch nha, cơm dừa nạo sấy; chế biến thủy sản; kinh doanh phế liệu; đóng tàu, ghe; sản xuất than tổ ong, than thiêu kết và các kho chứa hóa chất.
Các cơ sở sản xuất, kinh doanh được phép đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải tại chỗ, nhưng không tích cực đầu tư xây dựng hệ thống xử lý; không đủ điều kiện xử lý chất thải hoặc hệ thống xử lý chất thải không hoàn chỉnh, chất thải xử lý chưa đạt tiêu chuẩn Việt Nam hoặc Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường theo lộ trình thực hiện Đề án xử lý, di dời các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre, thì bắt buộc các cơ sở phải di dời ra khỏi nội thành thành phố Bến Tre.
Mai Hanh



21/07/2010 12:00 SAĐã ban hành
HƯỚNG DẪN THU GOM, LƯU TRỮ, BẢO QUẢN VÀ DÁN NHÃN CHẤT THẢI NGUY HẠI (CTNH)HƯỚNG DẪN THU GOM, LƯU TRỮ, BẢO QUẢN VÀ DÁN NHÃN CHẤT THẢI NGUY HẠI (CTNH)
Các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phát sinh chất thải nguy hại (CTNH) với khối lượng nhỏ nên gặp khó khăn trong việc hợp đồng với đơn vị có chức năng để chuyển giao CTNH. Theo quy định, các doanh nghiệp có thể lưu trữ tạm thời CTNH tại doanh nghiệp trong khoảng thời gian tối đa 06 tháng, khi khối lượng CTNH lớn chủ doanh nghiệp phải chuyển giao cho các đơn vị có giấy phép hành nghề vận chuyển, xử lý CTNH. Do đó việc thu gom, đóng gói, dán nhãn CTNH tại doanh nghiệp là khâu có ý nghĩa, tầm quan trọng cho việc lựa chọn phương pháp xử lý phù hợp và đảm bảo an toàn trong lưu giữ, vận chuyển.



Quá trình thu gom chất thải tại nguồn được thực hiện bởi các công nhân trong doanh nghiệp. Tùy thuộc vào dây chuyền sản xuất và bố trí lao động mà mỗi doanh nghiệp có 01 phương thức thu gom CTNH khác nhau. Việc vận chuyển CTNH từ chủ nguồn thải đến nơi xử lý được tiến hành bởi thỏa thuận giữa chủ nguồn thải và chủ vận chuyển, xử lý CTNH.
Đóng gói CTNH thường được thực hiện bởi chủ nguồn thải CTNH, việc đóng gói phải thỏa mãn các quy định:
Đóng gói bằng bao bì có chất lượng tốt, không bị lỗi kỹ thuật. Bao bì phải được đóng kín và ngăn ngừa rò rỉ khi vận chuyển. Không để CTNH dính bên ngoài bao bì. Bao bì mới hoặc bao bì tái sử dụng phải đảm bảo đầy đủ các tính năng (tính ăn mòn, tính chịu ma sát…) và yêu cầu kỹ thuật (áp suất, nhiệt độ…) của bao bì được phép sử dụng. Bản chất và độ dày của lớp bao bì phải thích hợp, không gây ra nhiệt trong quá trình vận chuyển.
Bao bì (kể cả phụ tùng đi kèm như nắp, vòi, vật liệu bịt kín,…) tiếp xúc trực tiếp với CTNH phải bền, không tương tác hóa học hay tác động khác với chất đó. Vật liệu làm bao bì không chứa thành phần có thể phản ứng với chất chứa bên trong tạo ra những sản phẩm nguy hiểm hay sản phẩm làm giảm độ bền của bao bì. Một số loại vật liệu plastic, có thể mềm, bị nứt gãy hay bị thấm do thay đổi nhiệt độ, do những phản ứng hóa học của vật chứa hay do việc sử dụng tác nhân lạnh, thì không được sử dụng.
Những kiện hàng chứa chất thải lỏng nguy hại (ngoại trừ chất thải lỏng dễ cháy) đựng trong các bao bì có dung tích nhỏ hơn 120 ml hoặc chất truyền nhiễm phải được sắp xếp sao cho phần nắp bao bì phải hướng lên phía trên và phải dùng nhãn chỉ hướng biểu thị thẳng đứng của bao bì. Kiện hàng phải có đủ chỗ trống để dán nhãn và những dấu hiệu theo quy định.
Việc dán nhãn trên các thùng chứa và sử dụng biển báo trên phương tiện vận chuyển có ý nghĩa rất quan trọng. Thực hiện tốt công tác này sẽ giúp tránh được các sự cố trong quá trình bốc dỡ, sắp xếp chất thải trong kho lưu giữ, vận chuyển và giúp cho việc lựa chọn biện pháp ứng cứu thích hợp khi có sự cố xảy ra. Việc dán nhãn CTNH là trách nhiệm của chủ nguồn thải CTNH. Các thiết bị, bao bì được sử dụng để chứa, lưu giữ, vận chuyển CTNH phải được dán nhãn hiệu cảnh báo có chữ “Chất thải nguy hại”. CTNH phải được làm rõ thuộc loại CTNH nào. Phần quan trọng của việc dán nhãn cảnh báo CTNH là thời gian bắt đầu tích luỹ, chứa CTNH. Về nguyên tắc, chủ nguồn thải CTNH không được phép lưu giữ CTNH quá 06 tháng, nếu chưa được phép. Do đó việc ghi ngày bắt đầu lưu giữ CTNH được sử dụng để xác định và kiểm soát quá trình lưu giữ có đúng quy định không.
Nhãn CTNH gồm các thông tin sau: Tên CTNH, mã CTNH; Tên và địa chỉ của chủ nguồn thải; Các tính chất nguy hại hoặc nguy cơ do chất thải có thể gây ra; Dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6707-2009 về “Chất thải nguy hại - Dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa”; Ngày bắt đầu được đóng gói, bảo quản.
Dấu hiệu cảnh báo CTNH gồm hình tam giác đều, viền đen, nền tam giác màu vàng với các biểu tượng màu đen và chữ (nếu có) màu đen được kết hợp sử dụng.



Khi dán nhãn hay treo biển báo CTNH cần tuân thủ các qui định sau: Mọi CTNH phải được dán dấu hiệu cảnh báo. Các nhãn cảnh báo CTNH phải có hình dạng, màu sắc, ký hiệu và chữ viết theo đúng quy định. Kích cỡ tối thiểu của các nhãn là 10 cm x 10 cm, khoảng cách xa 01 m có thể nhìn thấy được. Vật liệu làm nhãn và mực in trên nhãn phải bền trong điều kiện vận chuyển thông thường và bảo đảm còn rõ ràng dễ nhận ra bất kỳ lúc nào. Một CTNH có nhiều đặc tính nguy hại thì phải dán đầy đủ các nhãn hiệu cảnh báo cho từng loại đặc tính nguy hại đó.
Ví dụ : Dầu động cơ, hộp số và bôi trơn tổng hợp thải có các tính chất nguy hại là có độc tính (Đ), độc tính sinh thái (ĐS) và dể cháy (C) nên phải dán 03 nhãn cảnh báo nguy hại vào bao bì lưu trữ (Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường).
Mọi nhãn cảnh báo phải được in hoặc dán chắc chắn trên bao bì dễ nhận biết, rõ ràng và không bị che khuất bởi bất kì phần nào trên bao bì hay bị che bởi nhãn khác. Các nhãn không được gấp nếp hay không được dán theo cách mà các phần của nhãn nằm trên các phần khác nhau của bao bì lưu giữ. Nếu bề mặt bao bì không đủ chỗ thì phải chấp nhận dùng móc gắn kèm nhãn lên bao bì.
Khu vực lưu giữ CTNH cần được xác định rõ vị trí tách biệt với nơi sản xuất và phải gắn bảng ghi rõ là Khu vực lưu giữ chất thải nguy hại.
Nơi lưu giữ CTNH phải đảm bảo các nguyên tắc: Có mái che hoặc có tấm bạc che phủ kín lên trên CTNH đã lưu giữ trong các thùng chứa an toàn để tránh ảnh hưởng do mưa, nắng khi tiếp xúc trực tiếp. Tường hoặc rào lưới bảo vệ xung quanh. Có đường thoát nước riêng để tránh rò rỉ CTNH vào đường thoát nước chung. Đặt trên các pallet đảm bảo không tiếp xúc trực tiếp với mặt đất. Trang bị vật liệu thấm hút để sử dụng nếu có sự cố chảy tràn CTNH. Trang bị dụng cụ PCCC.
Bố trí sắp đặt tại nơi lưu giữ: Tách biệt các loại CTNH theo dạng rắn, lỏng, bùn trong các bao bì phù hợp và trên các bao bì phải dán các biển báo CTNH theo đúng qui định. Có thùng chứa bổ sung bên ngoài cho thùng chứa chất thải dạng lỏng. Trang bị bảo hộ lao động đầy đủ, phù hợp và nên để nơi thông thoáng.
Mai Hanh



17/11/2010 12:00 SAĐã ban hành
Thông tin quy hoạch các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Bến Tre Thông tin quy hoạch các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Bến Tre
Hiện tại người truy cập có thể xem thông tin quy hoạch các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Bến Tre như sau:
- Thành phố Bến Tre: P1, P2, P3, P4, P5, P6, P7, P8, một phần xã: Bình Phú, xã Sơn Đông, xã Mỹ Thạnh An.
- Huyện Thạnh Phú: Thị trấn Thạnh Phú, xã Phú Khánh, xã Đại Điền, xã Quới Điền, xã Tân Phong, xã Thới Thạnh.
Chúng tôi sẽ cố gắng cập nhật thông tin các huyện còn lại thuộc tỉnh Bến Tre trong thời gian sớm nhất.
Nếu người truy cập phát hiện sai sót xin góp ý về Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre. ĐT: 075.3821104 hoặc Email: vpdkbentre@yahoo.com.vn.
Người truy cập thông tin quy hoạch của các phường Phú Khương, Phú Tân, xã Phú Hưng theo bảng hướng dẫn sau:

* Các tờ bản đồ địa chính số: 1,2,3,4 và 11 của xã Phú hưng chuyển một phần sang Phường Phú Tân thì thực hiện đổi thành tờ bản đồ số: 31,33,34,16 và 35.
09/10/2008 12:00 SAĐã ban hành
Công văn 1402/STNMT-CCQLĐĐ về việc báo cáo đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai ở địa phươngCông văn 1402/STNMT-CCQLĐĐ về việc báo cáo đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai ở địa phương
Báo cáo đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai ở địa phương

​    Để có cơ sở báo cáo Tổng cục Quản lý đất đai đảm bảo chất lượng và thời gian, Sở Tài nguyên và Môi trường gửi đề cương yêu cầu báo cáo theo Công văn số 1678/TCQLĐĐ-CKSQLSDĐ, trong đó Sở đã có trình bày chi tiết các nội dung báo cáo theo chức năng của từng đơn vị, đề nghị các đơn vị quan tâm báo cáo và gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường.

   File gửi theo địa chỉ: nthchau.stnmt@bentre.gov.vn

   Thời gian báo cáo định kỳ hàng năm: Báo cáo 6 tháng gửi trước ngày 10/6 và báo cáo năm gửi trước ngày 10/11.

Tải nội dung: CV_1402_STNMT_CCQLDD.7z


04/06/2018 10:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận Từ ngày 10/5 Đến ngày 16/5/2018Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận Từ ngày 10/5 Đến ngày 16/5/2018
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận Từ ngày 10/5 Đến ngày 16/5/2018
16/05/2018 9:00 SAĐã ban hành
Nghị định 135/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nướcNghị định 135/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
Ngày 09/9/2016, Chính phủ ban hành Nghị định 135/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 45/2014/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất và Nghị định 46/2014/NĐ-CP về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước

1. Sửa đổi, bổ sung Nghị định 45/2014/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất

     - Nghị định số 135/2016/NĐ-CP hướng dẫn xác định giá khởi điểm khi Nhà nước giao đất có thu tiền thông qua đấu giá quyền sử dụng đất như sau:

       + Đối với thửa đất hoặc khi đất có giá trị (tính theo giá đất trong Bảng giá đất) từ 30 tỷ đồng trở lên đối với thành phố trực thuộc trung ương; từ 10 tỷ đồng trở lên đối với miền núi, vùng cao; 20 tỷ đồng trở lên đối với tỉnh còn lại do Sở Tài nguyên và Môi trường xác định, chuyển Hội đồng thẩm định định giá đất tổ chức thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.

       + Đối với thửa đất hoặc khu đất có giá trị (tính theo Bảng giá đất) dưới mức trên thì cơ quan tài chính xác định theo phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất.

       - Bên cạnh đó, Nghị định 135/2016/NĐ-CP bổ sung quy định không miễn, giảm tiền sử dụng đất trong trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất cho người trúng đấu giá thuộc đối tượng được miễn, giảm tiền sử dụng đất.

2. Sử đổi, bổ sung Nghị định 46/2014/NĐ-CP về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước

      Nghị định 135/2016/NĐ-CP sửa đổi quy định đơn giá thuê đất trong trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất thuê. Theo đó:

     - Giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm do cơ quan tài chính xác định theo phương pháp hệ số Điều chỉnh giá đất.

     - Với đất trả tiền thuê đất một lần thì giá khởi điểm được xác định như sau:

     + Trường hợp giá trị (tính theo giá đất trong Bảng giá đất) thửa đất hoặc khu đất từ 30 tỷ đồng trở lên đối với thành phố trực thuộc trung ương; từ 10 tỷ đồng trở lên đối với các tỉnh miền núi, vùng cao; từ 20 tỷ đồng trở lên đối với tỉnh còn lại do Sở Tài nguyên và Môi trường xác định, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.

      + Trường hợp giá trị (tính theo giá đất trong Bảng giá đất) thửa đất hoặc khu đất dưới mức trên thì giá khởi điểm là giá đất do cơ quan tài chính xác định theo phương pháp hệ số Điều chỉnh giá đất.

       Ngoài ra, Nghị định số 135/2016/NĐ-CP còn sửa đổi, bổ sung các quy định về: Xác định tiền thuê đất, thuê mặt nước; xử lý tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng; đơn giá thuê đất; miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước….

Nghị định 135/2016/NĐ-CP có hiệu lực ngày 15/11/2016.

N.K.Phương

26/10/2016 9:00 SAĐã ban hành
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TRUY CẬP “BẢN ĐỒ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT”HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TRUY CẬP “BẢN ĐỒ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT”
Chuyên mục Bản đồ quy hoạch sử dụng đất của trang tin điện tử Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre phục vụ cho các tổ chức và người dân cần xem thông tin quy hoạch về thửa đất của đang sử dụng.



Sau đây là phần hướng dẫn sử dụng việc truy cập website Sở Tài nguyên và Môi Trường Bến Tre tại địa chỉ sotnmt-bentre.gov.vn để xem thông tin quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bến Tre:
Cách I

- Truy cập vào website http://sotnmt-bentre.gov.vn.
- Tại trang chủ, ở phần menu chính nằm ở bên trái của giao diện bạn click chọn mục “Bản đồ quy hoạch”
* Tại trang thông tin quy hoạch tỉnh Bến Tre ở phần TRA CỨU THÔNG TIN QUY HOẠCH bạn cần phải nhập đầy đủ các thông tin như theo yêu cầu gồm: Quận huyện, Phường xã, Số tờ bản đồ, Số thửa, Chủ sử dụng. Sau đó click vào mục Tìm kiếm.
Cách II

- Truy cập vào website http://sotnmt-bentre.gov.vn.
- Tại trang chủ, ở phần TIN CHUYÊN MỤC bên phải của giao diện bạn click chọn mục “Thông tin quy hoạch” (Lưu ý: tại mục này chúng tôi có đưa ra thông báo cụ thể về việc cập nhật thông tin quy hoạch sử dụng đất trên website, đề nghị người truy cập xem thật kỹ để nắm thông tin)
- Tiếp theo bạn click chọn “THÔNG TIN QUY HOẠCH THỬ ĐẤT”
- Công việc cuối cùng là bạn làm theo hướng dẫn ở phần * của cách I.

Lưu ý: Tốt nhất các bạn nên sử dụng trình duyệt Internet Explorer 7.0 hoặc Firefox 3.0 trở lên. Rất mong sự đóng góp ý kiến để chuyên mục ngày càng hoàn thiện hơn.
BBT Website Sở TNMT



29/03/2010 12:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  từ ngày 01/02/2018 đến ngày 06/02/201817Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  từ ngày 01/02/2018 đến ngày 06/02/201817
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  từ ngày 01/02/2018 đến ngày 06/02/201817
08/02/2018 10:00 SAĐã ban hành
Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 25/4 đến ngày 02/5/2017) Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 25/4 đến ngày 02/5/2017)
Bản tin dự báo độ mặn từ ngày 25  tháng 4 đến ngày 02 tháng 5 năm 2017 (Tuần 17/2017)

I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 18 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 25/04/2017 (TUẦN 16/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế giảm dần từ ngày 18 đến ngày 20, sau đó tăng dần từ ngày 21 đến 25.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày từ 23 đến 25, ở mức sâu hơn so với tuần trước và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016. Riêng trên sông Cổ Chiên  ở mức sâu hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): không đo.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): không đo.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 6.3 ‰  ngày 23.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 1.1 ‰ ngày 23.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): 3.2 ‰ ngày 23. (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): không đo.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): không đo.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 6.0 ‰ ngày 23.

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mỏ Cày Nam): 6.3 ‰ ngày 23.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mỏ Cày Bắc): 3.6 ‰ ngày 23.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 - Tp. Bến Tre): 1.6 ‰  ngày 24.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân – huyện Mỏ Cày Bắc): chưa có số liệu.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): không đo.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mỏ Cày Nam): không đo.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mỏ Cày Nam): 5.9 ‰ ngày 23.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mỏ Cày Nam): 1.2 ‰ ngày 24.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mỏ Cày Bắc): 0.5 ‰ ngày 24-25.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giao hòa – Giao Long (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

- Sông Hàm Luông: xã Sơn Phú (huyện Giồng Trôm) – Định Thủy (huyện Mỏ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới A (huyện Mỏ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Tân Thạch (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 48-50km).

- Sông Hàm Luông: xã Bình Phú – Mỹ Thành (Tp. Bến Tre), (cách cửa sông khoảng 50-52km).

- Sông Cổ Chiên: xã Khánh Thạnh Tân – Nhuận Phú Tân (huyện Mỏ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 50-52km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 25/04 ĐẾN NGÀY 02/05/2017 (TUẦN 17/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế tăng dần từ ngày 25 đến ngày 28, sau đó ít biến đổi.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày từ 27/04 đến 02/05, ở mức sâu hơn so với tuần qua và sâu hơn so với cùng thời kỳ năm 2016. Riêng trên sông Hàm Luông ở mức tương đương so với cùng thời kỳ năm 2016.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  24.0 ‰ đến 27.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  10.0 ‰ đến 13.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  6.0 ‰ đến 8.0 ‰.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax từ  1.0 ‰ đến 3.0 ‰.

+ Tại Long Hoà (xã Long Hoà – huyện Bình Đại): 3.0 ‰  đến 5.0 ‰ (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): Smax từ 24.0 ‰ đến 27.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ  9.0 ‰ đến 12.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): Smax từ 6.0 ‰ đến 9.0 ‰ (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông – huyện Mỏ Cày Nam): Smax từ 7.0 ‰ đến 10.0 ‰.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình – huyện Mỏ Cày Bắc): Smax từ 4.0 ‰ đến 6.0 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): Smax từ 2.0 ‰ đến 4.0 ‰.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân – huyện Mỏ Cày Bắc): Smax từ 0.5 ‰ đến 2.0 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp – huyện Châu Thành): Smax 0.2 ‰ đến 1.5 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): 0.2 ‰..

+ Tại Hòa Nghĩa (xã Hòa Nghĩa - huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): Smax từ  24.0 ‰ đến 27.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mỏ Cày Nam): Smax từ 7.0 ‰ đến 10.0‰.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn – huyện Mỏ Cày Nam): Smax từ  6.0 ‰ đến 9.0 ‰.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mỏ Cày Nam): Smax từ 2.0 ‰ đến 4.0 ‰.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân): Smax 0.5 ‰ đến 2.0 ‰ .

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giao Long – Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 42-44km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An (Tp. Bến Tre) – Thanh Tân (huyện Mỏ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 45-47km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới B (huyện Mỏ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 43-45km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Tân Thạch (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 50-52km).

- Sông Hàm Luông: An Hiệp (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 55-57km).

- Sông Cổ Chiên: xã Nhuận Phú Tân (huyện Mỏ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 55-57km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này:

Sông Cửa Đại: cấp độ 1.

Sông Hàm Luông:cấp độ 1.

Sông Cổ Chiên: cấp độ 1.

tuan17.png 

Ban_tin_man_25_4 (Tuan_17_2017).png

27/04/2017 9:00 SAĐã ban hành
 BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HƯỚNG DẪN VIỆC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HƯỚNG DẪN VIỆC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản có hiệu lực từ ngày 01 tháng 8 năm 2009, có nghĩa là từ thời điểm này cơ quan chức năng phải thụ lý hồ sơ cấp giấy chứng nhận theo quy định mới. Nhưng hiện nay nghị định của Chính phủ về thống nhất “một giấy” vẫn chưa ban hành nên các địa phương chưa thể xử lý hồ sơ cấp giấy theo quy định mới.



Ngày 29 tháng 7 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ có Công văn chỉ đạo Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng khẩn trương hoàn chỉnh dự thảo Nghị định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, gửi Bộ Tư pháp thẩm định để trình Chính phủ quyết định; đồng thời, dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định theo thẩm quyền để ban hành ngay sau khi Nghị định được Thủ tướng ký ban hành.
Đến ngày 31 tháng 7 năm 2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường có Công văn hướng dẫn cụ thể việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như sau:
1. Cơ quan tài nguyên và môi trường, cơ quan xây dựng và các cơ quan có liên quan ở địa phương khẩn trương rà soát Giấy chứng nhận đã ký trước ngày 01 tháng 8 năm 2009 để trao cho người được cấp giấy chứng nhận theo đúng quy định của pháp luật.
Đối với các hồ sơ đã nhận trước ngày 01 tháng 8 năm 2009 tiếp tục hoàn thiện để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận.
2. Cơ quan tài nguyên và môi trường cấp tỉnh, cấp huyện thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, hoàn thiện hồ sơ cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật, không để gây ách tắc đồng thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết để khi văn bản hướng dẫn cấp Giấy chứng nhận mới được ban hành có hiệu lực sẽ sử dụng mẫu Giấy chứng nhận mới để cấp ngay cho các đối tượng được cấp giấy./.

Lê Uyên




10/08/2009 12:00 SAĐã ban hành
Ý kiến kết luận, chỉ đạo của Ông Cao Văn Trọng - Trưởng Ban chỉ đạo, Chủ tịch UBND tỉnh tại Hội nghị tổng kết năm 2017 và triển khai kế hoạch ứng phó  biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre năm 2018Ý kiến kết luận, chỉ đạo của Ông Cao Văn Trọng - Trưởng Ban chỉ đạo, Chủ tịch UBND tỉnh tại Hội nghị tổng kết năm 2017 và triển khai kế hoạch ứng phó  biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre năm 2018
Ban chỉ đạo đánh giá công tác ứng phó đạt được những kết quả khả quan trong nâng cao nhận thức và các công trình trọng điểm

      Ngày 31/01/2018, Ban Chỉ đạo ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị tổng kết năm 2017 và triển khai kế hoạch ứng phó năm 2018. Hội nghị do Ông Cao Văn Trọng - Trưởng Ban Chỉ đạo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì cùng sự tham gia của hơn 50 thành viên Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo.

DSC_1266_2018.JPG

Hội nghị Ban chỉ đạo ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre (Ảnh: Duy Anh)

       Sau hơn một năm triển khai Kế hoạch hành động 05 năm (2016 - 2020) của tỉnh, Ban chỉ đạo đánh giá công tác ứng phó đạt được những kết quả khả quan trong nâng cao nhận thức và các công trình trọng điểm. Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo nhận định: tác động của biến đổi khí hậu đến tỉnh trong thời gian qua tiêu cực hơn và khó dự báo; mặt khác, công tác ứng phó chưa huy động được toàn bộ hệ thống chính trị, nhân dân tham gia, nguồn lực hạn chế, dữ liệu biến đổi khí hậu rời rạc, tỷ lệ hoàn thành chỉ tiêu theo kế hoạch thấp...   

         Qua Hội nghị, Ông Cao Văn Trọng thay mặt Ban Chỉ đạo kết luận, chỉ đạo công tác ứng phó với biến đổi khí hậu của tỉnh năm 2018 và thời gian tới:

         Về nhiệm vụ chung: các thành viên Ban chỉ đạo, các sở, ban ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố phải tăng cường phối hợp, trao đổi thông tin trong thực hiện Chỉ thị, Chương trình của Tỉnh Ủy và các kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu; chú trọng các hoạt động nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành và nhân dân nhằm đạt sự thay đổi trong cách nghĩ, cách làm để tận dụng thời cơ, giảm thiểu các mối nguy; phát triển kinh tế của tỉnh ưu tiên theo hướng thích ứng và phát thải ít các-bon, trong đó có việc đẩy mạnh phát triển năng lượng sạch (điện gió, mặt trời) tiết kiệm năng lượng, nước và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên; thực hiện Quán triệt Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu; đặc biệt nhiệm vụ mới trong thời gian tới là triển khai ứng phó với biến đổi khí hậu theo Thỏa thuận Paris tại Quyết định số 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

        Ý kiến chỉ đạo nêu rõ nhiệm vụ của từng sở, ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố. Riêng đối với Sở Tài nguyên và Môi trường - cơ quan thường trực Ban chỉ đạo:

    •         + Tập trung đôn đốc, điều phối, hướng dẫn các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân huyện trong thực hiện các chương trình, kế hoạch, dự án; tham mưu xây dựng kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
    •        + Đẩy nhanh tiến độ để hoàn thành, đưa vào vận hành Hệ thống quan trắc cảnh báo mặn tự động (thuộc dự án AMD); triển khai dự án tăng cường năng lực quan trắc môi trường;
    •        + Chủ động phối hợp với nhóm chuyên gia Rumani thực hiện các bước tiếp theo để hoàn thành đề xuất, triển khai dự án "Thành lập thí điểm Khu bảo tồn đa dạng sinh học phục vụ phát triển bền vững du lịch sinh thái và Trung tâm tri thức về phát triển du lịch sinh thái tại Đồng bằng sông MeKong";
    •       + Triển khai xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về biến đổi khí hậu để đáp ứng thông tin, truyền thông và phục vụ công tác quản lý nhà nước.

(Kèm theo Thông báo số 53/TB-UBND ngày 07 tháng 02 năm 2018 về ý kiến kết luận chỉ đạo của Trưởng Ban chỉ đạo)

53_TB_UBND.pdf

Huỳnh Lê Duy Anh - P.QLTN&KTTV

27/02/2018 10:00 SAĐã ban hành
Thông báo mời thầu - Gói thầu: Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến TreThông báo mời thầu - Gói thầu: Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Ngày 15 tháng 6 năm 2018, Sở Tài nguyên và Môi trường ban hành thông báo số 1549/TB-STNMT Thông báo mời thầu - Gói thầu: Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre

​Tên bên mời thầu: Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre

Tên gói thầu: Thăm dò đánh giá trữ lượng 05 khu vực mỏ cát lòng sông trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Thời gian phát hành Hồ sơ mời thầu (HSMT): từ 08 giờ, ngày 18 tháng 6 năm 2018 đến trước 08 giờ, ngày 03 tháng 7 năm 2018 (trong giờ hành chính).

Địa điểm phát hành HSMT: Phòng Kế hoạch tài chính - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre.

- Địa chỉ: số 01 Trần Quốc Tuấn, Phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Tải nội dung: 1549_2018_TB_STNMT.pdf


18/06/2018 8:00 SAĐã ban hành
HỘI THAO NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG CÁC TỈNH PHÍA NAM LẦN THỨ VI NĂM 2009HỘI THAO NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG CÁC TỈNH PHÍA NAM LẦN THỨ VI NĂM 2009
Hội thao Ngành Tài nguyên và Môi trường các tỉnh phía Nam lần thứ VI năm 2009 do Sở Tài nguyên và Môi trường TP Hồ Chí Minh đăng cai tổ chức...



Hội thao Ngành Tài nguyên và Môi trường các tỉnh phía Nam lần thứ VI năm 2009 do Sở Tài nguyên và Môi trường TP Hồ Chí Minh đăng cai tổ chức đã diễn ra trong 02 ngày 17 và 18/7/2009 tại sân vận động Thành Long (huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh), với sự tham gia của 17 tỉnh, thành phía Nam, gồm: TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Hậu Giang, Đồng Nai, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Công ty Đo đạc Địa chính và Công trình, Công ty Đo đạc Ảnh địa hình, Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường TP Hồ Chí Minh.
Hội thao ngành Tài nguyên và Môi trường các tỉnh phía Nam được duy trì và luân phiên tổ chức mỗi năm 01 lần với mục đích nhằm thúc đẩy việc phát triển phong trào rèn luyện thân thể trong công chức, viên chức của ngành, đồng thời nhằm tạo sự đoàn kết, gắn bó giữa các tỉnh thành, giữa cán bộ công chức, viên chức, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi, học tập kinh nghiệm về chuyên môn, nghiệp vụ góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
So với các lần tổ chức trước đây tại Tiền Giang (2004), Long An (2005), Đồng Tháp (2006), An Giang (2007) và Đồng Nai (2008), Hội thao lần này có số lượng đơn vị tham gia đông đảo nhất, quy tụ được 20 đơn vị với số lượng vận động viên tham gia 924 VĐV thi đấu 06 môn, gồm: Bóng đá mini, cầu lông (đôi nam, đôi nam nữ), tennis đôi nam (giải lãnh đạo và giải CBCC), bóng chuyền nam, kéo co (nam, nữ), bida đơn nam (nội dung 3 băng).
Đến với Hội thao ngành tài nguyên môi trường các tỉnh phía Nam lần thứ VI năm 2009, Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre tham dự 39 vận động viên với các môn thi đấu: Bóng đá mini, bóng chuyền nam, kéo co nữ và bida đơn nam. Với mục đích rèn luyện thân thể, giao lưu học tập, tạo tinh thần đoàn kết với các tỉnh bạn.
Sau 02 ngày thi đấu, Hội thao ngành tài nguyên môi trường lần thứ VI năm 2009 kết thúc thành công, an toàn và đoàn kết. Ban Tổ chức đã trao cờ đăng cai tổ chức Hội thao ngành tài nguyên môi trường các tỉnh phía Nam lần thứ VII năm 2010 cho Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương./.

Lê Uyên.




27/07/2009 12:00 SAĐã ban hành
Hợp tác hữu nghị giữa tỉnh Bến Tre, Châu thổ sông Mekong Việt Nam và tỉnh Tulcea, Châu thổ sông Danube Romania trong bảo tồn đa dạng sinh học, du lịch sinh thái, bảo vệ tài nguyên cho mục tiêu phát triển bền vững Hợp tác hữu nghị giữa tỉnh Bến Tre, Châu thổ sông Mekong Việt Nam và tỉnh Tulcea, Châu thổ sông Danube Romania trong bảo tồn đa dạng sinh học, du lịch sinh thái, bảo vệ tài nguyên cho mục tiêu phát triển bền vững
Dự án“Thành lập thí điểm Khu bảo tồn đa dạng sinh học phục vụ phát triển bền vững du lịch sinh thái và Trung tâm Tri thức về phát triển du lịch sinh thái tại đồng bằng sông Mekong”

Tulce_10.jpg

Hình: Lãnh đạo tỉnh Bến Tre và các chuyên gia Romania (Ảnh: Duy Anh)

              Trong khuôn khổ Bản Ghi nhớ hợp tác hữu nghị giữa tỉnh Bến Tre và tỉnh Tulcea nước Romania, ngày 17 - 25 tháng 11/2017 đoàn chuyên gia Romania từ Viện Châu thổ Danube gồm Ông Marian Tudor - Viện trưởng, Ông Doroftei Mihai và Ông Marinov Mihai nghiên cứu viên cao cấp; và Khu Dự trữ sinh quyển Châu thổ Danube: Ông Malin Matei Musetescu - Trưởng Khu Dự trữ, Ông Ion Munteanu - Giám đốc điều hành đã đến và làm việc tại tỉnh Bến Tre nhằm giúp tỉnh xây dựng Báo cáo khả thi Dự án"Thành lập thí điểm Khu bảo tồn đa dạng sinh học phục vụ phát triển bền vững du lịch sinh thái và Trung tâm Tri thức về phát triển du lịch sinh thái tại đồng bằng sông Mekong".

              Liên quan đến Dự án, nhóm chuyên gia Romania đã đến Bến Tre khảo sát lần đầu vào tháng 10/2016. Ở cấp quốc gia, tháng 7/2016, Thủ tướng Romania đã có chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam, hai bên đã ban hành Tuyên bố chung về quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai quốc gia, trong đó hoan nghênh việc triển khai Dự án hợp tác giữa tỉnh Bến Tre - tỉnh Tulcea và nhất trí tiếp tục phối hợp thực hiện các dự án tiểu vùng sông Mekong và sông Danube (Theo vov.vn). Tại Diễn đàn đối thoại ASEM về phát triển bền vững lần 5, từ ngày 1-3 tháng 12/2016 tại thành phố Russe nước Bungari với chủ đề "Chương trình nghị sự gắn kết về nước cho thập niên phát triển thứ 3 của ASEM", Ông Marian Tudor - Viện trưởng Viện Châu thổ Danube đã có báo cáo trình bài về Dự án hợp tác giữa Bến Tre và Tulcea - "Phát triển Trung tâm tri thức và Khu bảo tồn Chim Vàm Hồ" (Nguồn: www.aseminfoboard.org).

Tulce_2345.jpg

Hình: Đoàn chuyên gia Romania hội kiến Lãnh đạo UBND tỉnh (Ảnh: Duy Anh)

Trong nội dung làm việc của chuyến công tác, chuyên gia Romania đã khảo sát các vị trí dự kiến do tỉnh Bến Tre đề xuất để xây dựng Trung tâm tri thức tại xã Mỹ Thạnh An, Thành phố Bến Tre và 04 Trung tâm thông tin du lịch: (01) xã An Thủy huyện Ba Tri; (02) Khu sân Chim Vàm Hồ xã Tân Mỹ huyện Ba Tri; (03) Khu hành chính Ban quản lý rừng Phòng Hộ và Đặc dụng xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú; (04) phân khu Ban quản lý rừng Phòng Hộ và Đặc dụng xã Bình Thắng, huyện Bình Đại.

           Bên cạnh đó, nhằm hỗ trợ tốt cho việc xây dựng Báo cáo khả thi Dự án, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tạo điều kiện để các chuyên gia hiểu rõ hơn về môi trường sinh thái, du lịch, văn hóa và lịch sử của tỉnh Bến Tre bằng các chuyến khảo sát rừng ven biển trên bộ và đường sông; trải niệm Homestay, vườn cây ăn trái ở xã Nhơn Thạnh, Phú Nhuận thành phố Bến Tre; tham quan Viện bảo tàng Bến Tre; viếng Lăng Nguyễn Đình Chiểu, xem trình diễn Sắc Bùa Phú Lễ, Ba Tri (Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia); và các sản phẩm thủ công, ẩm thực truyền thống.

Tulce_3.jpg

Hình: Đoàn chuyên gia Romania khảo sát rừng ven biển huyện Thạnh Phú

(Ảnh: Duy Anh)

Qua chuyến khảo thực tế và trao đổi tài liệu, chuyên môn với các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Tài nguyên và Môi trường, chuyên gia Romania đã đưa ra những khuyến nghị, đề xuất cho tỉnh Bến Tre và nội dung, các bước tiếp theo của Dự án trong thời gian tới, cụ thể:  

1. Bến Tre có tiềm năng tuyệt vời để phát triển du lịch sinh thái. Mặt khác, trước thực trạng là tỉnh chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, suy giảm của đa dạng sinh học và tài nguyên thì Bến Tre phải tập trung cho du lịch sinh thái như là một thay đổi khả thi trong tương lai gần để phát triển bền vững, bảo tồn và thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái;

2. Vùng Dự án dự kiến đề xuất UNESCO công nhận di sản thế giới sẽ kết hợp khu vực ven biển ba huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, rừng ven biển, khu vực các cửa sông Cửa Đại, Hàm Luông, Ba Lai và Cổ Chiên và Khu bảo tồn Chim Vàm Hồ; Khu bảo tồn Chim Vàm Hồ mở rộng về hướng cửa sông Ba Lai. Tổng diện tích đề xuất UNESCO là 71.766ha và chu vi là 188 km. Vấn đề vùng Dự án cần ý kiến và sự đồng thuận từ phía Việt Nam;

3. Trung tâm tri thức và 04 Trung tâm thông tin du lịch nên có vị trí xây dựng gần cơ sở hạ tầng đường bộ sẽ có tác động tích cực hơn đến giáo dục về sinh thái cho cộng đồng và du lịch. Các chuyên gia cơ bản đồng ý các vị trí xây dựng do phía tỉnh đề xuất;

sanchim123.jpg

Hình: Đề xuất mở rộng vùng Dự án và Khu bảo tồn Vàm Hồ (góc phải)

(Nguồn: Ts. Marinov Mihai - Viện Châu thổ Danube, Romania)

4. Các bên cần sớm quyết định một Dự án lớn hay chia ra các Dự án nhỏ; Bến Tre cần quyết định đề xuất UNESCO công nhận với hình thức Ramsar hay Khu dự trữ sinh quyễn;

5. Liên quan đến tài chính và các bước tiếp theo của Dự án: Nghị Viện Romaina và Hội đồng tỉnh Tulcea sẽ có đề xuất chính thức đến Bộ của Romania thuộc Qũy tài chính Châu Âu tài trợ kinh phí xây dựng Báo cáo khả thi cho Dự án, đồng thời liên hệ với các tổ chức phi chính phủ, các công ty tư vấn quốc tế cho việc vận động hành lang tìm nguồn tài chính cho Dự án. Báo cáo chi tiết Dự án sẽ hoàn thành trong năm 2018 và đầu năm 2019 Dự án sẽ được tài trợ chính thức để triển khai thực hiện.

Bên cạnh đó, các chuyên gia Romania thông tin về cuộc gặp sắp đến (vào cuối tháng 12/2017) của đoàn Nghị viện Romania và Việt Nam tại Hà Nội. Mục đích chuyến thăm và làm việc của đoàn Nghị viện Romania là đạt được sự ủng hộ cho Dự án ở cấp chính trị cao nhất của Việt Nam, Romania và Liên minh Châu Âu. Chuyên gia Romania và tỉnh Bến Tre sẽ tiếp tục phối hợp hoàn thành đề xuất khả thi Dự án trong tháng 12/2017 để hỗ trợ cuộc gặp quan trọng này.

Huỳnh Lê Duy Anh - Phòng Quản lý Tài nguyên và Khí tượng thủy văn




06/12/2017 2:00 CHĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  từ ngày 03/9/2018 đến ngày 14/9/2018Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  từ ngày 03/9/2018 đến ngày 14/9/2018
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  từ ngày 03/9/2018 đến ngày 14/9/2018
19/09/2018 11:00 SAĐã ban hành
Tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sảnTập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản
Ngày 8 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường số 3 Tỉnh Ủy, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức lớp tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản

08.8.TapHuan_VB_QPPL_QLTN-KS-1.jpg

Ông Trịnh Minh Khôi - Chánh Văn phòng Sở phát biểu khai mạc lớp tập huấn. (Ảnh: Duy Anh)

       Trong thời gian qua, tình hình khai thác cát trái phép trên địa bàn tỉnh nói riêng, cả nước nói chung có những diễn biến phức tạp. Nguyên nhân do nhu cầu sử dụng cát làm vật liệu san lấp rất lớn, trong khi lượng cát bổ cập từ thượng nguồn về ngày càng giảm. Trước tình hình trên, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện nghiêm túc, những quy định pháp luật hiện hành, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều biện pháp, giải pháp để xử lý có hiệu quả với nạn khai thác cát trái phép này.     

        Nhằm góp phần nâng cao năng lực cán bộ trong thực thi công vụ và hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, ngày 8 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường số 3 Tỉnh Ủy, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức lớp tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước và khoáng sản.

         Đến tham dự và chủ trì có Ông Lê Văn Đáo - Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cùng sự tham gia của gần 200 Đại biểu là đại diện các sở, ngành liên quan; Công an tỉnh; Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; Ủy ban nhân dân, Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố Bến Tre; Đoàn kiểm tra liên ngành khoáng sản tỉnh, huyện; Ủy ban nhân dân 164 xã, phường, thị trấn; và các Công ty, Hợp tác xã khai thác cát trên địa bàn tỉnh.

08.8.TapHuan_VB_QPPL_QLTN-KS-3.png
                              Quan cảnh lớp tập huấn. (Ảnh: Duy Anh)

        Lớp tập huấn đã phổ biến, cập nhật các chính sách, pháp luật về tài nguyên của Trung ương và Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành trong thời gian gần đây để áp dụng vào công tác thanh tra, kiểm tra và quản lý trên địa bàn tỉnh. Trong đó, nội dung tập huấn tập trung vào các văn bản Quy phạm pháp luật như Nghị định 158/2016/ND-CP ngày 29 tháng 11 năm 2016 quy định chi tiết thi hành một số điều Luật khoáng sản; Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2017 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản; Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 11 năm 2016 xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Quyết định số 27/2017/QĐ-UBND ngày 19 tháng 5 năm 2017 ban hành quy chế quản lý hoạt động khoáng sản tỉnh Bến Tre. Bên cạnh đó, các Đại biểu tham dự tập huấn đã trao đổi, thảo luận, chia sẻ những khó khăn, kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ.

Huỳnh Lê Duy Anh
08/08/2017 4:00 CHĐã ban hành
Kiểm kê đất đai toàn quốc cấp xã (những lưu ý của nữa sau chặng đường)Kiểm kê đất đai toàn quốc cấp xã (những lưu ý của nữa sau chặng đường)
Tính từ thời điểm kiểm kê đất đai năm 2010 được thực hiện thống nhất trên cả nước, từ ngày 1/1/2010, đến nay đã gần được nửa thời gian cấp xã phải hoàn thành và báo cáo kết quả. Thời hạn hoàn thành việc kiểm kê đất đai, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất và báo cáo kết quả kiểm kê đất đai theo quy định, cấp xã hoàn thành báo cáo kết quả trước ngày 30/4/2010.



Bộ TN&MT lưu ý ở lần kiểm kê năm 2010 này, đối với các xã có diện tích đất trồng lúa, ngoài việc xác định chính xác diện tích đất chuyên lúa, đất lúa nước còn lại, đất lúa nương theo đối tượng sử dụng từ xã, huyện, tỉnh, vùng và cả nước, còn phải tiến hành điều tra chi tiết về tình hình biến động đất trồng lúa để tổng hợp.
Đối với các xã đã cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, phải thực hiện thống kê diện tích các loại đất đã được cấp giấy chứng nhận và số hộ gia đình, cá nhân, tổ chức đã được cấp giấy, số giấy đã cấp, diện tích đã đo đạc...
Một nội dung rất đáng quan tâm là phương pháp tính toán tổng hợp số liệu cấp xã. Tính tổng diện tích tự nhiên trong địa giới hành chính từng cấp là công việc hết sức cần thiết để bảo đảm sự thống nhất số liệu tổng diện tích tự nhiên của từng đơn vị hành chính các cấp trong các kỳ thống kê, kiểm kê đất đai, bảo đảm cho việc đánh giá chính xác tình hình sử dụng các loại đất và tình hình biến động đất đai giữa các kỳ thống kê, kiểm kê đất đai.
Do những bất cập còn tồn tại về diện tích tự nhiên nên việc rà soát địa giới hành chính và giải quyết tranh chấp địa giới hành chính có dự án riêng thực hiện trong năm nay và những năm tiếp theo. Tuy nhiên, đối với cấp xã trong đợt kiểm kê này, phải tiến hành kiểm tra, rà soát và chuyển đường địa giới hiện đang quản lý sử dụng lên bản đồ để xác định hiện trạng diện tích tự nhiên. Hiện trạng diện tích tự nhiên sau kiểm kê đất đai năm 2010 được so sánh đối chiếu với hồ sơ địa giới hành chính của các đơn vị hành chính nhằm hoàn chỉnh hồ sơ địa giới hành chính, phục vụ giải quyết dứt điểm tranh chấp về địa giới hành chính.
Diện tích tự nhiên được tổng hợp theo kết quả điều tra phải bằng diện tích tự nhiên theo hiện trạng đang quản lý, sử dụng xác định trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất của đơn vị hành chính.

TMK (theo www.monre.gov.vn)


24/02/2010 12:00 SAĐã ban hành
Ô nhiễm môi trường tại các cơ sở kinh doanh phế liệuÔ nhiễm môi trường tại các cơ sở kinh doanh phế liệu
Cũng như nhiều địa phương khác, kinh doanh phế liệu trong nội ô thị xã Bến Tre đang là vấn đề xã hội quan tâm bởi những tác động tiêu cực của nó đối với môi trường sống của con người và mỹ quan đô thị.



Qua kết quả thực hiện Kế hoạch số 452/KH-STNMT ngày 20 tháng 4 năm 2009 về Điều tra, thống kê các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn các phường nội ô thị xã Bến Tre, đến tháng 5 năm 2009 trên địa bàn 10 phường nội ô thị xã Bến Tre (phường 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, Phú Khương và Phú Tân) có 21 cơ sở kinh doanh phế liệu, trong đó: phường 1: 01 cơ sở, phường 2: 01 cơ sở, phường 3: 01 cơ sở, phường 4: 01 cơ sở, phường 6: 09 cơ sở, phường 7: 03 cơ sở, phường 8: 03 cơ sở và phường Phú Khương: 02 cơ sở.
Các cơ sở kinh doanh phế liệu trên địa bàn chỉ thu mua phế liệu để phân loại và bán đi, không có hoạt động sơ chế. Thành phần phế liệu mà các cơ sở này thu mua gồm: gỗ, giấy các loại, nhôm, sắt, thép, ... nhiều nhất là nhựa và một số cơ sở có thu mua cả chất thải nguy hại là các loại thùng chứa dầu, nhớt, hóa chất và rác thải y tế.
Các cơ sở có mặt bằng hẹp từ 50 – 300 m2, nằm xen kẽ trong khu dân cư và được xây dựng bằng nhà tiền chế, không có kho chứa kín, kiên cố. Chủ cơ sở tập trung phế liệu ngoài trời hoặc lấn chiếm lòng đường, vỉa hè làm nơi chứa làm mất mỹ quan đô thị. Phế liệu sau khi phân loại, được chứa trong các bao nilong lớn tập trung thành những đống cao, không an toàn cho người lao động trong cơ sở.
Do thành phần phế liệu rất đa dạng và được tập trung ngoài trời, vào mùa mưa tại các cơ sở này phát sinh một lượng nước mưa chảy tràn rất lớn có lẫn các loại chất thải khác nhau, kể cả chất thải nguy hại. Hiện nay, các cơ sở kinh doanh phế liệu chưa đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải đúng quy định, nước thải được thải tràn ra môi trường hoặc tự thấm vào lòng đất, gây ô nhiễm môi trường nước, đất.
Bên cạnh đó, chất thải của các cơ sở này còn có bụi, tiếng ồn và mùi hôi thối, trong đó nghiêm trọng nhất là mùi hôi từ các thùng đựng hoá chất, ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động và người dân khu vực. Những dư thừa qua công đoạn phân loại phế liệu như: gỉ sắt, cao su, giấy, dây nhựa vụn, .... không được xử lý đúng quy định, được đem chôn, đổ ra vệ đường hoặc đốt gây ô nhiễm môi trường.
Kinh doanh phế liệu hiện nay theo hướng tích cực đang được Nhà nước khuyến khích, nhưng cũng đang là vấn đề xã hội quan tâm bởi những tác động tiêu cực của nó đối với môi trường sống của con người. Những diễn biến phức tạp về ô nhiễm môi trường, cần phải được các cấp, các ngành phối hợp chỉ đạo tuyên truyền, có biện pháp cụ thể qui hoạch địa điểm hoạt động, đủ điều kiện xử lý chất thải, quản lý tốt về hoạt động kinh doanh và an ninh trật tự.
Theo nội dung Đề án bổ sung xử lý, di dời các cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm ra khỏi nội ô thị xã Bến Tre, thì các cơ sở kinh doanh phế liệu trong nội ô thị xã Bến Tre thuộc đối tượng bắt buộc phải di dời.

Mai Hanh




13/08/2009 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre triển khai Nghị định số 69/2009/ND-CP và Nghị định số 88/2009/NĐ-CP của Chính phủBến Tre triển khai Nghị định số 69/2009/ND-CP và Nghị định số 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ
Sáng ngày 06 tháng 11 năm 2009. Được sự uỷ nhiệm của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức Hội nghị triển khai Nghị định số 69/2009/ND-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định  bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009  của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.


Với sự tham dự của hơn 80 đại biểu là lãnh đạo của các Sở, ngành có liên quan, lãnh đạo UBND, lãnh đạo các phòng TN&MT, Văn phòng ĐKQSDĐ, Ban Bồi thường GPMB của các huyện, thành phố.
Hội nghị đã được nghe giới thiệu các nội dung cơ bản của Nghị định 69/2009/NĐ-CP, đó là: Quy hoạch sử dụng đất; Giá đất; Bồi thường, hỗ trợ tái định cư; Trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất; Phát triển quỹ đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, gia hạn sử dụng đất...
Còn đối với Nghị định số 88/2009/NĐ-CP nội dung được nhiều đại biểu quan tâm chính là mẫu giấy mới và theo Nghị định thì việc cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất chỉ phải làm thủ tục một lần tại một cơ quan. Đó là Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện và mẫu giấy chứng nhận mới kế thừa mẫu giấy chứng nhận cũ. Tất cả các giấy tờ đã cấp trước 10/12/2009 như: GCN quyền sử dụng đất; GCN quyền sở hữu nhà ở; GCN quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; GCN quyền sở hữu công trình vẫn còn giá trị pháp lý trong các giao dịch dân sự theo quy định. Chỉ khi người dân có nhu cầu cấp mới hoặc chuyển quyền, chuyển nhượng, mua bán, thừa kế…toàn bộ thửa đất, nhà ở, tài sản gắn liền với đất khi làm thủ tục sẽ được chuyển sang cấp giấy mới và sẽ không phải nộp lệ phí cấp đổi. Hồ sơ đã nộp không phải làm lại.
Cũng tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghe và thảo luận sôi nổi về Dự thảo quy định chính sách hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh theo quy định của Nghị định 69/2009/NĐ-CP như vấn đề , các trường hợp nào được bố trí tái định cư và bố trí tái định cư như thế nào? các khoảng hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất có phù hợp với địa phương chưa?
Nhìn chung các đại biểu đã thống nhất với nội dung của 2 nghị định và dự thảo quy định về chính sách hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh.
Phát biểu ý kiến chỉ đạo tại Hội nghị ông Trương Duy Hải – Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị sau hội nghị này quý vị đại biểu về nghiên cứu sâu và quán triệt, triển khai rộng rãi 2 Nghị định này cho cán bộ và nhân dân được biết và yêu cầu các cơ quan có liên quan và các huyện, thành phố tiếp tục gởi ý kiến đóng góp cho Dự thảo quy định chính sách hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh.

HÙNG CƯỜNG



11/11/2009 12:00 SAĐã ban hành
Truyền thông về "Ngày Nước thế giới 2018" và "Ngày Khí tượng thế giới 2018"Truyền thông về "Ngày Nước thế giới 2018" và "Ngày Khí tượng thế giới 2018"
Truyền thông về "Ngày Nước thế giới 2018" và "Ngày Khí tượng thế giới 2018"
16/03/2018 9:00 SAĐã ban hành
Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Mùa mặn 2016-2017)Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Mùa mặn 2016-2017)
Bản tin dự báo độ mặn - Bản tin mặn cuối cùng - Mùa mặn 2016-2017 (Tuần 24/2017)

I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 06 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 13/06/2017 (TUẦN 23/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế giảm nhẹ ít biến đổi từ ngày 06 đến 13.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 06-11  ở mức xấp xỉ thấp hơn so với tuần trước và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 18.6 ‰  ngày 06.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 3.2 ‰  ngày 06.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 0.2 ‰  ngày 06-11.

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): 12.3 ‰  ngày 06.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): 0.4 ‰  ngày 06, 10, 11.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 0.1 ‰ ngày 06.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): 0.1 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): 9.3 ‰  ngày 13.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mõ Cày Nam): 0.2 ‰  ngày 06.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Lộc Thuận - Phú Vang (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 20-22km).

- Sông Hàm Luông: xã An Hiệp (huyện Ba Tri) – Mỹ An (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 16-18km).

- Sông Cổ Chiên: xã Bình Thạnh - Hòa Lợi (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 16-18km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

- Sông Hàm Luông: xã Hưng Lễ (huyện Giồng Trôm) – Phú Khánh (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 24-26km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thới Thạnh (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 26-28km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TRONG THỜI GIAN TỚI:

Xâm nhập mặn trên các sông chính trong tỉnh có xu thế lùi dần về cửa sông. Trong nửa cuối tháng 06 còn xuất hiện 01 đợt xâm nhập mặn với độ mặn 4o/oo xâm nhập sâu nhất cách cửa sông khoảng 30km, độ mặn 1o/oo xâm nhập sâu nhất khoảng 40km rồi rút nhanh. Sau đó mặn xâm nhập giảm nhanh cho đến cuối tháng 07 năm 2017, lúc này độ mặn 4o/oo chỉ tồn tại ở vùng cửa sông.

 Đây là bản tin dự báo xâm nhập mặn cuối cùng trong mùa mặn năm nay.

 (Bản tin dự báo xâm nhập mặn tiếp theo sẽ được phát trong tháng 12 năm nay)

TUAN24.png 

Ban tin man 20-6-2017 (Tuan24).png

20/06/2017 3:00 CHĐã ban hành
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nh​iệm chính: Ông Nguyễn Văn Chinh - Chức vụ: Giám đốc Sở TN và MT | Giấy phép số: 139/GP - BC, ngày 16 tháng 4 năm 2007
Địa chỉ trụ sở: Số 01 - Trần Quốc Tuấn - Phường 2 - Thành phố Bến Tre - Tỉnh Bến Tre
Điện thoại: 0275.3822210 - 0275.3211494 - Fax: 0275.3813176; Email: stnmt@bentre.gov.vn