Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Tài nguyên đất đai
 
Thông báo mời thầu - Gói thầu: Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre và Công bố, công khai kết quả Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre 
 
Góp ý dự thảo Quyết định Ban hành quy chế thực hiện dân chủ trong công tác thu hồi đất; Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn tỉnh Bến Tre  
 
Ngày 29 tháng 9 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai 
Quyết định số 2311/QĐ-BTNMT ngày 28/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt và công bố kết quả thống kê diện tích đất đai năm 2016. 
 
Nghị định 102/2017/NĐ-CP về Đăng ký biện pháp bảo đảm 
 
 
Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV thông qua Nghị quyết số 42/2017/NQ14 ngày 21 tháng 6 năm 2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng 
 
Ngày 24 tháng 3 năm 2017, Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Nghị quyết số 04/NQ-HĐND về việc sửa đổi, bổ sung Điều 1 của Nghị quyết số 15/NQ-HĐND ngày 07 tháng 12 năm 2016 và Nghị quyết số 06/NQ-HĐND về việc sửa đổi, bổ sung Điều 1 Nghị quyết số 16/NQ-HĐND ngày 07 tháng 12 năm 2016 
 
Góp ý dự thảo văn bản 
 
Ngày 27 tháng 02 năm 2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 08/2017/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2015-2019 ban hành kèm theo Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 19 tháng 12 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre 
 
Ngày 26 tháng 12 năm 2016, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 32/2016/TT-BTC ngày 26 tháng 12 năm 2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 76/2014/TT-BTC về thu tiền sử dụng đất, có hiệu lực ngày 10 tháng 02 năm 2017. 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Nhiều giải pháp để tạo quỹ đất "sạch"Nhiều giải pháp để tạo quỹ đất "sạch"
Tại Hội thảo bàn việc tạo quỹ đất "sạch" cho các nhà đầu tư do Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Hiệp hội Bất động sản TP.HCM, Tổng Công ty Đền bù giải tỏa vừa được tổ chức tại TP.HCM, đã có nhiều ý kiến đề xuất giải pháp liên quan đến đền bù giải tỏa, cơ chế tài chính...nhằm điều tiết thị trường nhà đất lâu nay vốn rất thất thường.



Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Thế Ngọc cho biết, sắp tới sẽ điều chỉnh hệ thống chính sách về giá đất, ngoài bồi thường còn có thêm phần hỗ trợ và cũng chính là phần của Nhà nước giúp đỡ người dân và điều tiết lại sự chênh lệch địa tô bất hợp lý.
Thứ trưởng Trần Thế Ngọc đề nghị các địa phương phải chủ động lên kế hoạch lâu dài để tạo quỹ nhà đất tái định cư, để khi cần là đáp ứng kịp thời, hỗ trợ nhanh việc đền bù giải tỏa, đồng thời phục vụ cải tạo chỉnh trang đô thị. Để tạo được quỹ nhà đất này, các địa phương cần nghiên cứu áp dụng hình thức tổ chức đấu thầu các dự án. Bộ TN&MT sẽ công bố danh mục, địa chỉ quỹ đất dành cho 4 mục đích như Đề án đã nêu ra, trong đó sẽ nêu cụ thể diện tích, hệ số sử dụng đất, kể cả giá bồi thường ở từng địa chỉ. Theo Thứ trưởng Trần Thế Ngọc, ngoài việc cải cách thủ tục hành chính như giảm từ 11 bước khi giao đất, cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất xuống chỉ còn 3 bước như hiện nay, Nhà nước cũng cần có sự hỗ trợ về thuế, về nguồn vốn đối với các nhà đầu tư tham gia chương trình nhà ở xã hội.
Trước đó, ông Lê Thanh Khuyến, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai, đã trình bày Đề án "Tạo quỹ đất của Nhà nước phục vụ các mục tiêu công ích, chính sách xã hội, điều tiết thị trường đất đai và hỗ trợ tái định cư ". Theo đó, nêu bật 3 nhóm giải pháp chính để thực hiện Đề án này: Hoàn thiện hệ thống pháp luật; sử dụng công cụ giá đất và vấn đề bồi thường giải tỏa ; các chương trình hành động cụ thể…Nhiều doanh nghiệp đã đóng góp ý kiến bổ ích, thiết thực cho Đề án trên của Bộ TN&MT.
Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Nhà nước cần có những chính sách hữu hiệu để sớm chấn chỉnh sự chênh lệch địa tô quá lớn và bất hợp lý như thời gian qua, gây nhiều bức xúc trong xã hội. Bởi theo ông Châu, phần giá trị gia tăng khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã rơi quá nhiều vào túi nhà đầu tư hoặc tầng lớp trung gian, trong khi đó Nhà nước và người dân lại không được hưởng lợi, tạo ra sự mất cân bằng. Vì vậy, cần phải có sự điều tiết lại để giá trị gia tăng của đất được chuyển vào ngân sách, để Nhà nước có thêm nguồn tài chính hỗ trợ cho người dân có đất bị thu hồi và đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi xã hội khác.
Cần có những cơ chế chính sách để người dân có đất bị thu hồi không bị thiệt thòi đã được ông Lê Viết Hưng, Giám đốc Sở TN&MT tỉnh Đồng Nai nêu lên. Theo ông Hưng, điều quan trọng nhất là phải xây dựng được một cơ chế định giá đất phù hợp, thống nhất trên toàn quốc và được kiểm soát chặt chẽ. Làm được như vậy thì dù là dự án của Nhà nước hay của tư nhân thì việc đền bù giải tỏa sẽ được đẩy nhanh hơn, hạn chế tình trạng quy hoạch "treo", dự án "treo" và hạn chế được khiếu kiện kéo dài, phức tạp như thời gian qua. Ông Trần Kim Phát, Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất TP.HCM cho rằng, trong chính sách đền bù, giải tỏa không nên dùng từ hỗ trợ, bởi nếu gọi là hỗ trợ thì chưa đánh giá đúng mức quyền lợi và sự bình đẳng về quyền sử dụng đất của người dân.
Từ thực tế triển khai đền bù giải tỏa rất thành công, chỉ trong một thời gian ngắn một số dự án ở TP. Hồ Chí Minh mà trước đây đã nổi tiếng bởi sự chậm trễ kéo dài nhiều năm trời như: Chung cư 192 Nam Kỳ Khởi Nghĩa (quận 3), 289 Trần Hưng Đạo (quận 1), khu nhà ở - tái định cư Phú Mỹ (quận 7)…Ông Phạm Ngọc Lâm, Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty cổ phần Đền bù giải tỏa cho rằng: Chỉ có sử dụng phương án thẩm định giá và lấy kết quả định giá để áp giá đền bù là có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa chủ đầu tư và người dân có nhà đất bị thu hồi. Theo ông Lâm, nên quy định trong vòng 3 tháng, chủ đầu tư thuê công ty định giá để thẩm định giá nhà đất và tiến hành thỏa thuận với người dân bằng chứng thư định giá. Tất nhiên các công ty định giá nhà đất sẽ phải chịu trách nhiệm về kết quả thẩm định của mình. Chỉ có một tổ chức trung gian đứng ra làm việc này một cách khách quan mới dung hòa được lợi ích của cả người dân và chủ đầu tư.

Theo www.monre.gov.vn



27/02/2009 12:00 SAĐã ban hành
Nâng cao hiệu quả quản lý đất đai ở các địa phươngNâng cao hiệu quả quản lý đất đai ở các địa phương
Thông tư liên tịch số 38 (ngày 31/12/2004) giữa Bộ Tài nguyên & Môi trường và Bộ Nội vụ về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, và Tổ chức phát triển quỹ đất sẽ được sửa đổi theo hướng tách thành 2 Thông tư liên tịch. Đây là việc làm cần thiết nhằm phục vụ và nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất đai ở địa phương, rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục trong quá trình đăng ký, giao dịch và tạo được nguồn quỹ đất.



Đến thời điểm này, dự thảo Thông tư liên tịch giữa Bộ Tài nguyên & Môi trường, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và cơ chế tài chính của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đang trong quá trình thẩm định, để có thể ban hành thời gian tới. Sự thay đổi cơ bản ở dự thảo là thống nhất thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ở cấp huyện và quy định rõ cơ chế tài chính của Văn phòng.
Sau hơn 4 năm thực hiện Thông tư liên tịch, đến nay các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thành lập được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, trong đó có 487 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện; 35 tỉnh có 100% số huyện, thị xã, thành phố thành lập Văn phòng. Song cũng còn 6 tỉnh Lào Cai, Bắc Kạn, Điện Biên, Phú Thọ, Bắc Ninh và Hòa Bình chưa có huyện nào thành lập được. Bên cạnh đó 52 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thành lập Tổ chức phát triển quỹ đất. Số địa phương chưa thành lập được là Lào Cai, Tuyên Quang, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nghệ An, Quảng Trị, Gia Lai, Bến tre, Sóc Trăng và Bình Dương.
Theo đánh giá của Bộ Tài nguyên & Môi trường, nguyên nhân của những tồn tại nêu trên là do một số nội dung trong việc thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất chưa được quy định đầy đủ, khiến cho các địa phương khó thực hiện. Việc quy định thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện tùy thuộc vào điều kiện từng địa phương cũng là tác nhân gây ách tắc, nhất là cơ chế hoạt động và tài chính không được quy định trong Thông tư liên tịch.

Theo www.monre.gov.vn



12/02/2009 12:00 SAĐã ban hành
Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam kiểm tra công tác quản lý nhà nước trong hoạt động đo đạc bản đồ tại Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre.Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam kiểm tra công tác quản lý nhà nước trong hoạt động đo đạc bản đồ tại Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre.
Từ ngày 25 đến ngày 26 tháng 3 năm 2010, Đoàn kiểm tra Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam do ông Lê Minh Tâm (Phó Cục trưởng - Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam) làm Trưởng đoàn, cùng đi có bà Phan Thị Phương Nam (Phó Chi Cục Đo đạc và Bản đồ phía nam) đến làm việc với Sở Tài nguyên và Môi trường.



Đoàn kiểm tra Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam đã nghe lãnh đạo Sở báo cáo tình hình thực hiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua, xung quanh những vấn đề: Về việc chấp hành các quy định của Chính Phủ và của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ; quản lý triển khai các nhiệm vụ về đo đạc và bản đồ; việc chấp hành quy chế đăng ký và cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ; những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị trong công tác đo đạc và bản đồ tại địa phương,…
Đoàn cũng đã kiểm tra hoạt động đo đạc và bản đồ của 01 đơn vị sự nghiệp thuộc Sở (Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre) và 02 doanh nghiệp (Công ty TNHH Đo đạc Địa ốc Nhuận Phát, Công ty TNHH Đo đạc Địa ốc Sơn Thu), Đoàn kiểm tra đã đánh giá những mặt làm được và chưa làm được của từng đơn vị, yêu cầu các đơn vị thực hiện tốt hơn nữa những quy định của pháp luật về công tác đo đạc bản đồ, hằng năm cần báo cáo về Cục Đo đạc và Bản đồ theo đúng thời gian quy định.










Kết luận tại buổi làm việc của Đoàn kiểm tra, ông Lê Minh Tâm (Phó Cục trưởng - Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam) triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2010 cần phải thực hiện. Qua đó ông đề nghị tỉnh sớm ban hành Quy định về quản lý hoạt động đo đạc và bản đồ theo quy định của Nghị định 12/2002/NĐ-CP, nội dung quy định này phải được quy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng phù hợp với đặc điểm của địa phương, cần phải tránh chung chung mang tính hình thức, đồng thời xây dựng và hoàn thiện các văn bản quản lý thuộc thẩm quyền của mình; Hằng năm cần có kế hoạch thanh tra, kiểm tra các đơn vị hoạt động đo đạc và bản đồ trên địa bàn tỉnh; Tăng cường hơn nữa hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đo đạc và bản đồ để các tổ chức và cá nhân có liên quan hiểu rõ và thực hiện đúng các quy định của pháp luật; Kiểm tra đăng ký, quản lý hoạt động đo đạc và bản đồ của các đơn vị ngoài ngành trong tỉnh và các đơn vị ngoài tỉnh đến hoạt động tại địa phương; Cần có sự phối hợp với các ngành cụ thể trong công tác xây dựng kế hoạch, quy hoạch tổng thể, dài hạn về đo đạc bản đồ chung trên địa bàn tỉnh, đảm bảo thống nhất trong quản lý và tránh chồng chéo lãng phí trong triển khai; Cần có kế hoạch chuyển đổi ngay sản phẩm đo đạc bản đồ về hệ quy chiếu quốc gia VN2000 theo Quyết định số 83/2000/QĐ-TTg ngày 12/7/2000 của Thủ tướng Chính phủ,.…
Ông Trương Duy Hải Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường thay mặt Sở tiếp thu những ý kiến đóng góp của Đoàn kiểm tra và bày tỏ sự quyết tâm cao trong việc thực hiện những nhiệm vụ của ngành, đặc biệt là hoạt động đo đạc và bản đồ trong thời gian tới.

Văn Đỉnh



08/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
QUY ĐỊNH VỀ BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG, CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ HÌNH THỨC XỬ LÝ CÁC VI PHẠMQUY ĐỊNH VỀ BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG, CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ HÌNH THỨC XỬ LÝ CÁC VI PHẠM
Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường, khi tiến hành lập Báo cáo nghiên cứu khã thi của một dự án thì đồng thời chủ dự án phải lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Danh mục các dự án phải lập ĐTM được quy định tại phần Phụ lục của Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính Phủ.



Đối với các dự án không thuộc danh mục các dự án phải lập ĐTM và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ quy mô hộ gia đình thì phải lập Cam kết bảo vệ môi trường (CKBVMT) và chỉ triển khai hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khi được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận đăng ký bản CKBVMT. Sự phân biệt giữa ĐTM và CKBVMT là để thể hiện qui mô, mức độ ảnh hưởng đến môi trường của dự án và cũng để thuận lợi trong việc phân cấp quản lý giữa các cấp quản lý nhà nước về môi trường. Còn về bản chất thì ĐTM và CKBVMT hoàn toàn giống nhau. Xét dưới góc độ quản lý, nó được coi là một biện pháp quản lý nhà nước về môi trường; Xét dưới góc độ khoa học, nó là những nghiên cứu về mối liên hệ, những tác động biện chứng giữa các hoạt động phát triển và các khía cạnh môi trường từ khi dự án bắt đầu xây dựng và trong suốt quá trình hoạt động của dự án; Còn xét dưới góc độ pháp lý nó là hệ thống các quan hệ pháp luật hình thành giữa cơ quan quản lý nhà nước với các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động có tác động đến môi trường và nếu vi phạm thì các tổ chức, cá nhân sẽ phải chịu xử lý theo quy định của pháp luật. Hình thức xử lý đối với các hành vi vi phạm về ĐTM/CKBVMT là xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Điều 7 và Điều 8 của Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính Phủ. Vi phạm các quy định về ĐTM/CKBVMT là hành vi vi phạm phổ biến đối với các dự án, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Qua công tác thanh tra, kiểm tra của Sở Tài nguyên và Môi trường thường gặp những hành vi vi phạm sau:
- Hành vi không thực hiện ĐTM/CKBVMT mà tiến hành xây dựng, đưa dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vào hoạt động. Các tổ chức, cá nhân vi phạm quy định này thì chịu mức phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng đối với hành vi không có ĐTM và từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi không có CKBVMT. Ngoài ra, tổ chức, cá nhân vi phạm còn phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là lập đề án bảo vệ môi trường trình cho cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, xác nhận.
- Hành vi không xây, lắp, xây lắp không đúng, không vận hành thường xuyên hoặc vận hành không đúng quy trình đối với công trình xử lý môi trường theo nội dung ĐTM/CKBVMT đã được phê duyệt, xác nhận. Mức phạt tiền đối với hành vi này là từ 130.000.000 đồng đến 170.000.000 đồng cho dự án lập ĐTM và từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng cho dự án lập CKBVMT. Biện pháp khắc phục hậu quả là tiến hành xây lắp công trình xử lý môi trường và vận hành đúng quy trình theo nội dung ĐTM/CKBVMT đã được phê duyệt, xác nhận.
- Hành vi thực hiện không đúng, không đầy đủ các nội dung trong ĐTM/CKBVMT đã được phê duyệt, xác nhận. Mức phạt tiền đối với hành vi này là từ 40.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng cho dự án lập ĐTM và từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng cho dự án lập CKBVMT. Biện pháp khắc phục hậu quả là thực hiện đầy đủ các nội dung trong ĐTM/CKBVMT đã được phê duyệt, xác nhận.
- Bên cạnh đó, hành vi không niêm yết công khai tại địa điểm thực hiện dự án bản tóm tắt ĐTM đã được phê duyệt, không thực hiện giám sát chất thải, giám sát môi trường xung quanh, không lập ĐTM bổ sung,… cũng là hành vi vi phạm phổ biến đối với các dự án đã được phê duyệt ĐTM. Mức phạt tiền đối với các hành vi này cũng rất cao, có hành vi mức phạt tiền đến 100.000.000 đồng.
Thực tế, đa số các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn Bến Tre có quy mô vừa và nhỏ, vốn đầu tư thấp. Với chế tài xử lý vi phạm về môi trường có tính răn đe mạnh như hiện nay thì các cơ sở khó tồn tại nếu vi phạm các quy định về ĐTM/CKBVMT nói riêng và vi phạm về môi trường nói chung. Để không bị xử lý vi phạm về môi trường thì hơn ai hết chính chủ các dự án, các tổ chức và cá nhân phải chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ mà còn là quyền lợi của các tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới.
Nguyễn Minh Cường



21/05/2010 12:00 SAĐã ban hành
CHÚNG TA LÀM GÌ KHI PHÁT HIỆN SỰ CỐ TRÀN DẦUCHÚNG TA LÀM GÌ KHI PHÁT HIỆN SỰ CỐ TRÀN DẦU
Sự cố tràn dầu để lại hậu quả rất nghiêm trọng làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái (rừng ngập mặn), tài nguyên thủy sinh, tài nguyên nước, tài nguyên đất và gây thiệt hại đến các hoạt động kinh tế.



Bến Tre là một tỉnh cù lao, được bao bọc và chia cắt bởi hệ thống sông rạch chằng chịt (4 nhánh sông lớn và hơn 103 kênh, rạch) và 65 km bờ biển nên giao thông thủy có điều kiện thuận lợi để phát triển. Cùng với đó là sự phát triển mạnh của nền kinh tế tỉnh nhà, kinh tế biển nói chung, hệ thống giao thông thủy của tỉnh đã có những bước phát triển vượt bậc. Hàng năm, tàu thuyền đi qua tỉnh Bến Tre thông qua các tuyến giao thông thủy quan trọng: sông Tiền Giang, sông Cổ Chiên, kênh Chợ Lách và chuyển tải hàng hóa qua cảng Giao Long, khu vực chuyển tải trên sông Hàm Luông,… tăng cả về số lượng và tải trọng. Đồng thời, là sự phát triển của nhiều phương tiện (ghe, tàu,…) vận chuyển, kinh doanh dầu, chủ yếu là các phương tiện có trọng tải nhỏ và không đảm bảo an toàn; số lượng phương tiện đánh bắt thủy, hải sản cao (hơn 2.823 tàu). Cơ sở hạ tầng (cầu, phà, đường giao thông,…. ) của tỉnh còn yếu, chưa đáp ứng với nhu cầu giao thông đường bộ đang tăng cao. Đây là những nguy cơ tiềm ẩn gây ra sự cố tràn dầu (SCTD) trên địa bàn tỉnh.
Hiện nay, tỉnh Bến Tre chưa có đơn vị ứng cứu sự cố tràn dầu chuyên nghiệp, cũng như chưa được đầu tư những phương tiện chuyên dụng tham gia ứng cứu khi có SCTD. Do đó, nếu xảy ra SCTD, chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc ứng cứu và có thể để lại hậu quả nghiêm trọng.
Sự cố tràn dầu để lại hậu quả rất nghiêm trọng làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái (rừng ngập mặn), tài nguyên thủy sinh, tài nguyên nước, tài nguyên đất trên một khu vực khá rộng, gây thiệt hại đến các hoạt động kinh tế, đặc biệt là những hoạt động liên quan đến khai thác và sử dụng tài nguyên thủy sản, các tổ chức, cá nhân sinh sống và có hoạt động phát triển ven bờ như đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, du lịch, làm muối, nông nghiệp...
Chúng ta làm gì khi phát hiện sự cố tràn dầu: Các tổ chức, cá nhân, cơ sở để xảy ra sự SCTD hoặc phát hiện SCTD có trách nhiệm báo cáo kịp thời đến một trong các cơ quan sau: Cảng vụ hàng hải Mỹ Tho, Trung tâm ứng phó sự cố tràn dầu miền nam, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân tỉnh (Ban chỉ đạo ứng phó sự cố tràn dầu tỉnh Bến Tre).
Ngoài các đầu mối trên, khi để xảy ra tràn dầu hoặc phát hiện SCTD, có thể thông tin đến: các đài thông tin duyên hải, Ủy ban nhân dân cấp huyện, thành phố; các đơn vị: hải quân, biên phòng, cảnh sát giao thông đường thủy.
Công tác chuẩn bị sẵn sàng ứng phó SCTD:
Đối với các cơ quan, đơn vị, cá nhân có phương tiện, thiết bị có nguy cơ gây ra sự cố tràn dầu: có trách nhiệm xây dựng kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; ký kết thỏa thuận, hợp đồng ứng phó sự cố tràn dầu với các cơ quan, đơn vị thích hợp; phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi gây ra sự cố tràn dầu theo quy định; các phương tiện, thiết bị có khả năng gây ra sự cố tràn dầu bắt buộc phải tham gia bảo hiểm về ô nhiễm môi trường tương ứng với nguy cơ gây ra tràn dầu.
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: Để ứng phó kịp thời mọi tình huống tràn dầu xảy ra trong khu vực trách nhiệm, hàng năm, Ban chỉ đạo ứng phó SCTD tỉnh cần chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan xây dựng Kế hoạch ứng phó SCTD. Nhằm nâng cao hiệu quả ứng phó SCTD, bảo vệ môi trường, cần sớm hoàn thiện hệ thống tổ chức, bảo đảm thống nhất trong chỉ huy, hiệp đồng, nhất là khi xảy ra SCTD lớn, nhiều lực lượng tham gia. Trong xu thế hội nhập, phát triển, SCTD có xu hướng gia tăng, mang tính quốc tế; cần đầu tư thích đáng xây dựng nguồn lực, mua sắm trang thiết bị chuyên dùng, huấn luyện, đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên nghiệp, làm nòng cốt ứng phó, khắc phục hiệu quả SCTD thường xảy ra đột xuất, hậu quả khó lường...
Biện pháp khắc phục SCTD: Khắc phục SCTD là công việc hết sức cần thiết nhưng phức tạp và khó khăn, đòi hỏi sự tổ chức, phối hợp đồng bộ, nhanh chóng và áp dụng các kỹ thuật phù hợp và do các cơ quan, đơn vị có chức năng thực hiện.

Mai Hanh


05/05/2010 12:00 SAĐã ban hành
KẾT QUẢ THANH TRA VỀ KHOÁNG SẢN VÀ TÀI NGUYÊN NƯỚC CỦA  BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI BẾN TREKẾT QUẢ THANH TRA VỀ KHOÁNG SẢN VÀ TÀI NGUYÊN NƯỚC CỦA  BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI BẾN TRE
Hiện nay, ở đồng bằng Sông Cửu Long mực nước ngầm đang tụt giảm và suy giảm về chất lượng do việc khai thác và sử dụng nước dưới đất chưa hợp lý. Bên cạnh đó, tình trạng sạt lở bờ sông, thay đổi dòng chảy, ô nhiễm môi trường,… do hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông diễn ra trong những năm gần đây. Trước thực trạng đó, ngày 12/3/ 2010 Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập 4 đoàn thanh tra diện rộng về tình hình khai thác cát, sỏi lòng sông và khai thác, sử dụng nước dưới đất tại 13 tỉnh, thành ở đồng bằng Sông Cửu Long.



Tại Bến Tre, đoàn làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực khoáng sản và tài nguyên nước. Qua đó, đoàn đánh giá cao công tác quản lý của tỉnh trong thời gian qua đã góp phần đưa các hoạt động trong lĩnh vực khoáng sản và tài nguyên nước đi vào nề nếp và ổn định. Để đáp ứng công tác quản lý nhà nước về khoáng sản và tài nguyên nước trong thời gian tới, đoàn kiến nghị tỉnh cần thực hiện các nhiệm vụ như: Thực hiện khoanh định, phê duyệt vùng cấm, tạm thời cấm hoạt động khoáng sản, vùng cấm, vùng hạn chế khai thác, sử dụng nước dưới đất; Chỉ đạo các ngành chức năng tiếp tục rà soát, hệ thống các văn ban quy phạm pháp luật ngành tài nguyên và môi trường, sửa đổi bổ sung, ban hành các văn bản mới theo thẩm quyền; Bố trí ngân sách, tăng cường đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường; Chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường thường xuyên thanh tra, kiểm tra các đơn vị đã được cấp phép hoạt động khoáng sản, khai thác sử dụng tài nguyên nước và phối hợp với các Sở, Ban, ngành liên quan giải quyết các vấn đề liên quan đến tài nguyên và môi trường,…
Đồng thời, đoàn tiến hành thanh tra việc chấp hành pháp luật của 8 tổ chức có hoạt động trong lĩnh vực khai thác cát, sỏi lòng sông và khai thác, sử dụng nước dưới đất tại tỉnh. Qua thanh tra, đoàn đã lập biên bản vi phạm hành chính và đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường xử phạt vi phạm hành chính đối với các tổ chức vi phạm. Lĩnh vực khoáng sản có các tổ chức vi phạm gồm: Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng Bến Tre, Hợp tác xã khai thác cát Bình Đại, Hợp tác xã khai thác cát Ba Tri và Hợp tác xã khai thác cát Việt Hùng. Lỗi vi phạm chủ yếu của các tổ chức này là không thông báo kế hoạch khai thác cho cơ quan có thẩm quyền, không lập bản đồ hiện trạng khu vực khai thác, không có thiết kế khai thác mỏ, không ký quỹ phục hồi môi trường, không thực hiện quan trắc môi trường, …Lĩnh vực tài nguyên nước, có các tổ chức vi phạm gồm: Công ty Cổ phần XNK thuỷ sản Bến Tre, Công ty Cổ phần XNK lâm thuỷ sản Bến Tre, Ban Quản lý khai thác cung cấp nước sinh hoạt Châu Thành và Công ty TNHH một thành viên cấp thoát nước Bến Tre. Lỗi vi phạm phổ biến của các tổ chức khai thác nước dưới đất là không lắp đặt thiết bị đo lưu lượng khai thác, quan trắc mực nước, không thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, khai thác không có giấy phép thăm dò,…
Nguyễn Minh Cường



10/05/2010 12:00 SAĐã ban hành
Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre: NĂM 2008 KIỆN TOÀN BỘ MÁY ĐỂ PHÁT TRIỂNSở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre: NĂM 2008 KIỆN TOÀN BỘ MÁY ĐỂ PHÁT TRIỂN
Với chức năng tham mưu giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường ở địa phương, có thể nói 2008 là năm mà ngành Tài nguyên và Môi trường Bến Tre gặt hái được nhiều thành công trong cả hai phương diện quản lý nhà nước và thực hiện các mục tiêu hoạt động của ngành.



Thực hiện chức năng quản lý nhà nước, trong năm 2008 hầu hết các nhiệm vụ công tác của ngành được thực hiện theo đúng kế hoạch, đảm bảo số lượng, chất lượng và thời gian thực hiện.
Công tác quản lý đất đai ngày càng chặt chẽ theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được phê duyệt; các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh do pháp luật đất đai quy định đều được Sở Tài nguyên và Môi trường quan tâm tập trung thực hiện tốt. Cụ thể trong năm 2008, đã hoàn thành công tác đo đạc lập bản đồ địa chính 21 xã của huyện Châu Thành, hoàn thành cơ bản công tác đăng ký lập hồ sơ địa chính 19 xã thuộc huyện Bình Đại; công tác cấp giấy CNQSDĐ đã hoàn thành về cơ bản (có trên 97% thửa đất hộ gia đình, các nhân và các tổ chức sử dụng được cấp giấy); đã điều tra nguồn quỹ đất công và tham mưu UBND tỉnh ban hành văn bản quản lý; các dịch vụ công phục vụ người sử dụng đất mặc dù còn nhiều việc phải tiếp tục chấn chỉnh, nhưng nhìn chung ngày càng hiệu quả và phục vụ người dân tốt hơn… Đặc biệt trong năm 2008, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu tốt cho UBND tỉnh về việc tiếp nhận và chuẩn bị kế hoạch thực hiện Dự án Hoàn thiện và hiện đại hoá hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (VLAP) giai đoạn 2008-2013. Ngày 28/10 vừa qua, Dự án chính thức được khởi động thực hiện, đã hiện thực hoá một cơ hội lớn cho công tác quản lý đất đai ở Bến Tre ngày càng hiện đại và hoàn thiện.
Quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, một nhiệm vụ cấp bách trong giai đoạn hội nhập phát triển kinh tế. Bến Tre cũng như các địa phương trong cả nước sẽ gánh chịu hệ quả tất yếu giữa phát triển kinh tế và ô nhiễm môi trường. Do đó, nhiệm vụ này đã được tập trung thực hiện xuyên suốt trong năm qua. Quy hoạch môi trường tỉnh Bến Tre giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020 với nhiều chương trình giải quyết ô nhiễm môi trường trong tương lai đã được xây dựng xong đang được triển khai thực hiện; công tác quan trắc, thẩm định và kiểm soát ô nhiễm môi trường được quan tâm đầu tư thực hiện thường xuyên; các mô hình xử lý ô nhiễm được tập trung nghiên cứu nhằm ứng dụng giải quyết ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi gia súc, sản xuất than thiêu kết, chỉ xơ dừa… và đã đạt được một số kết quả bước đầu; công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về tài nguyên và môi trường trên sóng Đài Phát thanh Truyền hình Bến Tre, Báo Đồng Khởi và Trang tin điện tử Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre (tại địa chỉ http://www.sotnmt-bentre.gov.vn) ngày càng đa dạng, phong phú tạo được sự quan tâm trong dư luận, qua đó nhận thức của người dân được nâng lên, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước tài nguyên và môi trường; Hợp phần kiểm soát ô nhiễm môi trường khu đông dân cư nghèo tỉnh Bến Tre (PCDA) đã bước sang năm thứ hai và đang triển khai thực hiện các dự án trình diễn : Dự án xây dựng mô hình xử lý chất thải vật nuôi tại xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày và xã Phú Lễ, huyện Ba Tri và dự án cải thiện môi trường kênh Chín Tế, Phường Phú Khương, Thị xã Bến Tre... tất cả đã góp phần cải thiện môi trường sống của người dân, cũng như quản lý, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả hai loại tài nguyên quý giá của tỉnh là tài nguyên nước và cát lòng sông.
Với vai trò là cơ quan tham mưu giải quyết khiếu kiện về đất đai, các phản ảnh về bảo vệ tài nguyên, môi trường, năm qua ngành Tài nguyên và Môi trường đã bám sát kế hoạch giải quyết khiếu kiện của tỉnh, tập trung phân công lực lượng tham gia các Đoàn công tác liên ngành của tỉnh. Kết quả đã giải quyết xong cơ bản dạng khiếu kiện đất TĐSX theo Quyết định 815/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và giải quyết thấu tình, đạt lý nhiều vụ việc tranh chấp, khiếu kiện khác, góp phần ổn định tình hình trật tự ở địa phương.
Bên cạnh công tác chuyên môn, việc kiện toàn tổ chức bộ máy ngành Tài nguyên và Môi trường trong năm 2008 cũng đã đạt được những thành quả quan trọng góp phần nâng cao năng lực quản lý của ngành. Trong năm 2008 đã thành lập Chi cục Bảo vệ môi trường Bến Tre chính thức đi vào hoạt động từ đầu tháng 7-2008; thành lập Trung tâm Quan trắc môi trường vào tháng 9-2008; thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre trên cơ sở hợp nhất 03 đơn vị sự nghiệp gồm Trung tâm Kỹ thuật TNMT, Trung tâm Thông tin TNMT và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh, đơn vị này đã đi vào hoạt động ổn định từ tháng 8-2008 và bắt đầu phát huy nguồn lực tổng hợp từ 03 đơn vị được hợp nhất. Hiện tại, Sở Tài nguyên và Môi trường cũng đang trình UBND tỉnh xem xét phê duyệt Đề án kiện toàn tổ chức bộ máy theo Thông tư Liên tịch số 03/2008/TTLT-BTNMT-BNV ngày 15/7/2008 của Bô Tài nguyên và Môi trường- Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về tài nguyên và môi trường thuộc Ủy ban nhân dân các cấp, trong đó bổ sung thêm chức năng quản lý tổng hợp về biển, đảo và chức năng định giá đất hàng năm.
Năm 2008 là năm thứ 3 thực hiện Kế hoạch 5 năm 2006-2010 của tỉnh. Nỗ lực của ngành Tài nguyên và Môi trường có ý nghĩa quan trọng góp phần vào sự phát triển bền vững của tỉnh nhà và vì mục tiêu phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn. Hy vọng kế thừa những thành tựu trong thời gian qua, ngành Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục gặt hái những thành tựu mới trong năm 2009./.
Vĩnh Thịnh




16/12/2008 12:00 SAĐã ban hành
Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng: Phải tập trung xử lý dứt điểm các vụ khiếu kiện kéo dàiPhó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng: Phải tập trung xử lý dứt điểm các vụ khiếu kiện kéo dài
Sáng 17/11, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng chủ trì cuộc họp với lãnh đạo Thanh tra Chính phủ, Bộ Tư pháp và Bộ Công an về những biện pháp giải quyết các vụ việc khiếu kiện kéo dài.



Theo kết quả rà soát của các cơ quan chức năng, thời gian qua, cả nước có 42 vụ việc khiếu nại, tố cáo, kéo dài; trong đó có 17 vụ việc khiếu kiện về đất đai đã được các cơ quan có thẩm quyền của địa phương và Trung ương xem xét giải quyết theo trình tự của pháp luật, bảo đảm thấu tình, đạt lý; nhưng công dân không chấp hành và tiếp tục khiếu kiện kéo dài nhiều năm. Đáng chú ý 15 trong tổng số 17 vụ việc trên đã được các cơ quan ở Trung ương có ý kiến chỉ đạo. Tuy nhiên, một số vụ việc đã có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ nhưng các địa phương xem xét giải quyết còn chậm trễ. Có 10 vụ việc tại 7 tỉnh, thành phố liên quan đến đòi lại nhà đất, đền bù, thu hồi đất; tranh chấp quyền sử dụng đất; thanh toán tài sản trưng mua; kỷ luật buộc thôi việc... đã được các cơ quan có thẩm quyền tại Trung ương đề nghị chính quyền địa phương rà soát, xem xét lại.
Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng yêu cầu các cơ quan chức năng cần có ngay các biện pháp tập trung xử lý dứt điểm các vụ việc trên, không để tồn động kéo dài. Đối với 17 vụ việc đã được các cơ quan có thẩm quyền của địa phương và Trung ương xem xét, các cơ quan chức năng thống nhất để có văn bản từ chối giải quyết tiếp vì sự việc đã được xử lý, giải quyết thấu tình đạt lý, đúng chính sách của luật phát hiện hành; đồng thời, yêu cầu công dân chấp hành các quy định giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền, chấm dứt khiếu nại. Đối với 25 vụ việc khác (15 vụ việc đã được các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương nhiều lần có ý kiến chỉ đạo và 10 vụ việc tại 7 tỉnh, thành phố), Phó Thủ tướng chỉ đạo Bộ Tư pháp, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an... tiếp tục phối hợp chặt chẽ với chính quyền các địa phương rà soát, xem xét và sớm giải quyết dứt điểm tại địa phương.

Theo www.monre.gov.vn



20/11/2008 12:00 SAĐã ban hành
Tập huấn Nâng cao năng lực kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trườngTập huấn Nâng cao năng lực kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường
Nhằm trang bị kiến thức, chính sách, qui định của pháp luật về bảo vệ môi trường cho các đối tượng...



Nhằm trang bị kiến thức, chính sách, qui định của pháp luật về bảo vệ môi trường cho các đối tượng đang trực tiếp tham gia công tác bảo vệ môi trường tại địa phương. Tạo sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, chính quyền địa phương với các ngành liên quan, các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp và cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường.
Ngày 09 tháng 12 năm 2008, được sự hỗ trợ của Hợp phần kiểm soát ô nhiễm khu đông dân cư nghèo (PCDA), Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre tổ chức tập huấn cho hơn 180 cán bộ quản lý môi trường của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, thị xã và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh.
Tại lớp tập huấn, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành triển khai một số văn bản, qui định về môi trường như sau:
- Thông tư số 04/2008/TT-BTNMT ngày 18 tháng 9 năm 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về Hướng dẫn lập, phê duyệt hoặc xác nhận Đề án bảo vệ môi trường và kiểm tra, thanh tra việc thực hiện Đề án bảo vệ môi trường;
- Một số Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường thường được sử dụng và các Quyết định số 35/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 25 tháng 6 năm 2002 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường về việc Công bố danh mục tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường bắt buộc áp dụng, Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18 tháng 12 năm 2006 về việc bắt buộc áp dụng Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường và Quyết định số 04/2008/QĐ-BTNMT ngày 18 tháng 7 năm 2008 về ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Các đối tượng tham gia tập huấn rất nghiêm túc và hoan nghênh nội dung của đợt tập huấn này. Vì nội dung các văn bản, qui định trên rất thiết thực và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bến Tre hiện nay. Lớp tập huấn đã kết thúc thành công tốt đẹp.

Mai Hanh




11/12/2008 12:00 SAĐã ban hành
MÔ HÌNH CÁN, KÉO SẮT THÉP PHẾ LIỆU RA THÀNH PHẨMMÔ HÌNH CÁN, KÉO SẮT THÉP PHẾ LIỆU RA THÀNH PHẨM
Mô hình cán, kéo sắt thép phế liệu ra thành phẩm là một loại hình công nghiệp mới của tỉnh, góp phần bảo vệ môi trường vì sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên.



Trong những năm gần đây, để đáp ứng cho sự phát triển rất nhanh của nền kinh tế, ngành xây dựng Bến Tre cũng có một tốc độ phát triển rất mạnh mẽ, và kèm theo đó là quá trình cải tạo, tháo dỡ các công trình đã qua sử dụng, công trình không còn phù hợp với nhu cầu sử dụng mới. Quá trình này thải ra một khối lượng rất lớn sắt thép phế liệu. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bến Tre, cũng như một số tỉnh lân cận chưa có nhà máy cán, kéo sắt thép phế liệu ra thành phẩm. Nguồn sắt thép phế liệu này chủ yếu được bán về Thành phố Hồ Chí Minh cũng như một số tỉnh như Đồng Nai, Bình Dương, Đà Nẵng để tái chế, sau đó bán những sản phẩm đã tái chế trở lại Bến Tre để phục vụ cho việc xây dựng các công trình và nhà ở của nhân dân.
Từ thực tế trên cho thấy việc đầu tư xây dựng một nhà máy cán, kéo sắt thép phế liệu ra thành phẩm phục vụ cho ngành xây dựng tại Bến Tre là một nhu cầu thiết thực, nhằm tận dụng nguồn sắt thép phế liệu tại địa phương, tiết kiệm tài nguyên và đồng thời gia tăng chuỗi giá trị cho những doanh nghiệp có hoạt động tháo dở, thi công những công trình xây dựng.
Được sự quan tâm hỗ trợ của các ngành, các cấp có liên quan, DNTN xây dựng Vạn Hòa Phát đã đầu tư xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật cán, kéo sắt thép phế liệu ra thành phẩm đầu tiên của tỉnh Bến Tre. Mô hình được xây dựng tại ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thị xã Bến Tre, trong khuôn viên rộng 2.200 m2, có 02 máy cán, kéo sắt thép, với công suất hoạt động là 10 tấn sản phẩm/ngày.
Tuy nhiên đây là hoạt động có nhiều khả năng gây ra các sự cố như: cháy, tai nạn lao động, ô nhiễm môi trường (khói, bụi, nhiệt và tiếng ồn), cho nên DNTN xây dựng Vạn Hòa Phát cần quan tâm đầu tư xây dựng các công trình xử lý môi trường đúng kỹ thuật, đảm bảo xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường, trang bị dụng cụ bảo hộ lao động, phòng cháy chữa cháy; các ngành, các cấp có liên quan hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc các qui định về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho người lao động.
Mô hình cán, kéo sắt thép phế liệu ra thành phẩm đã mở ra một ngành nghề sản xuất mới trên địa bàn tỉnh Bến Tre, hổ trợ cho sự phát triển của các ngành công nghiệp, xây dựng. Qua đó, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, tận dụng nguồn sắt thép phế liệu tại địa phương, bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.

Mai Hanh




10/12/2008 12:00 SAĐã ban hành
Đồng bằng sông Cửu Long :CẦN SỰ HỖ TRỢ ĐỂ ĐỐI PHÓ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬUĐồng bằng sông Cửu Long :CẦN SỰ HỖ TRỢ ĐỂ ĐỐI PHÓ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Trong một bản phúc trình vừa phát hành, tổ chức Oxfam (Tổ chức phi chính phủ của Anh) nhận định, mặc dù là một nước có trách nhiệm ít nhất về khí thải nhà kính, nhưng Việt Nam lại nằm trong số các quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất của biến đổi khí hậu. Trong đó, vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất.



Tổ chức Oxfam cảnh báo cuộc sống của người nghèo ở Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng vì hiện tượng biến đổi khí hậu. Theo Oxfam, thành tựu giảm nghèo từ hai thập niên qua bị ảnh hưởng tiêu cực vì các hiện tượng như mưa lũ, hạn hán, nhiệt độ tăng lên. Bản phúc trình khuyến nghị giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu cần được đưa thành trọng tâm đối với mọi cơ quan của chính phủ chứ không chỉ ở một bộ phận đơn lẻ nào.
Phúc trình dựa trên nghiên cứu của một nhóm chuyên gia Oxfam làm tại Bến Tre và Quảng Trị trong tháng Năm năm nay. Thổ lộ với các chuyên gia, người dân nói họ "cảm nhận được thay đổi bất thường và khó dự đoán của thời tiết cũng như sự thay đổi về cường độ của bão lũ so với nhiều năm trước". Họ ghi nhận đối tượng đối mặt với tác động của biến đổi khí hậu là phụ nữ và nam giới nghèo ở hai tỉnh này.
Tác động của thời tiết ở từng địa phương có khác nhau. Ở Bến Tre là bão, đe dọa của xâm ngập mặn do nước biển dâng cao, trong khi Quảng Trị phải đối mặt với việc khó dự đoán thời điểm và lượng mưa dẫn đến lũ lụt thường xuyên hơn. Kết quả từ cuộc khảo sát về tác động của biến đổi khí hậu tới đời sống của bộ phận dân cư nghèo tại Bến Tre và Quảng Trị cho thấy, so với 20, 30 năm trước, các địa phương này đang phải đối mặt với tình trạng biến đổi khí hậu nhanh chóng như bão lớn, khí hậu bất thường, nước biển xâm lấn và lụt lội.
Tại miền Trung, mưa lũ gần đây được cho là lớn hơn, trong khi mới hồi đầu tháng, tại TP. HCM, triều cường ở mức cao nhất từ gần 50 năm qua. Ở miền Bắc cũng xảy ra trận rét kéo dài 38 ngày, phá kỷ lục trận rét dài 31 ngày năm 1989.
Báo cáo cho rằng Việt Nam sẽ có thêm rủi ro về thiên tai khi trái đất nóng lên. Từ năm 2007, Ngân hàng Thế giới đã dự đoán Việt Nam có thể là một trong hai quốc gia (Việt Nam và Bangladesh) dễ bị ảnh hưởng nhất từ việc mực nước biển dâng lên 1m vào năm 2100, và là quốc gia dễ bị ảnh hưởng nhất ở Đông Á.
Các nghiên cứu Liên Hiệp Quốc và Ngân hàng Thế giới đã cho rằng đồng bằng sông Cửu Long có thể bị ảnh hưởng nặng nhất vì biến đổi khí hậu. Trong số các nguy cơ cho vùng này, có khả năng vào năm 2030, nước biển dâng lên có thể làm gần một nửa diện tích đất của đồng bằng sông Cửu Long bị nhiễm mặn hoàn toàn. Đến năm 2070, suy giảm năng suất mùa vụ có thể làm vụ lúa xuân giảm 8%. Năm 2100, nếu nước biến dâng lên hơn một mét, 90% diện tích đồng bằng sông Cửu Long có thể bị ngập lụt hàng năm. Khi thời tiết trở nên thất thường, người nghèo sẽ chịu nhiều thiệt thòi, vì họ không có nhiều điều kiện để khôi phục cuộc sống.
Nhấn mạnh Việt Nam là một trong số ít các quốc gia đạt được phần lớn các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ vào năm 2015, đặc biệt là mục tiêu giảm nghèo, báo cáo của tổ chức này cũng nêu rõ: “những thành quả đầy ấn tượng của Chính phủ trong việc đưa hàng triệu người thoát nghèo đang bị đe doạ nghiêm trọng bởi các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt gia tăng như mưa lũ, hạn hán cũng những biến đổi khí hậu khác đang diễn ra dần dần như mực nước biển dâng hay nhiệt độ tăng lên.”
Oxfam nhận xét Việt Nam đã có bề dày kinh nghiệm ứng phó với thiên tai, lũ lụt. Nhưng Oxfam đề nghị cần đưa phụ nữ và nam giới nghèo vào trọng tâm của mọi kế hoạch thích ứng với tác động của biến đối khí hậu. Họ cũng nhấn mạnh cần cho phép có sự tham gia tích cực của người dân vào việc thực hiện các kế hoạch đối phó.
Các nhà nghiên cứu kêu gọi cần lồng ghép kế hoạch đối phó biến đổi khí hậu ở mọi cơ quan của Chính phủ Việt Nam./.

VĂN PHONG (Tổng hợp từ BBC,TTXVN, Monre)




01/12/2008 12:00 SAĐã ban hành
Từ ngày 01/01/2009, Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực :NGƯỜI CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT SẼ CHỊU THUẾ  RA SAO ?Từ ngày 01/01/2009, Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực :NGƯỜI CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT SẼ CHỊU THUẾ  RA SAO ?
Ngày 01/01/2009, Luật thuế thu nhập cá nhân sẽ có hiệu lực thi hành. Theo đó người chuyển nhượng quyền sử đất và tài sản gắn liền với đất sẽ bị điều chỉnh bởi Luật này. Nhằm giúp bạn đọc tìm hiểu những quy định mới về thuế chuyển nhượng bất động sản khi Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực, chúng tôi xin tóm tắt trình bày phục vụ bạn đọc như sau :



Về cách tính thuế chuyển quyền sử dụng đất :
- Trường hợp 1: Khi xác định được giá chuyển nhượng bất động sản, giá mua bất động sản và các chi phí có liên quan thì thu nhập chịu thuế được xác định bằng giá chuyển nhượng trừ giá mua bất động sản và các chi phí có liên quan, trường hợp này thuế suất theo quy định là 25%. Trong đó, giá chuyển nhượng bất động sản là giá mua theo hợp đồng tại thời điểm chuyển nhượng; giá mua bất động sản là giá theo hợp đồng tại thời điểm mua; các chi phí có liên quan được trừ căn cứ vào chứng từ, hóa đơn theo quy định của pháp luật, bao gồm các loại phí, lệ phí theo quy định của pháp luật liên quan đến quyền sử dụng đất; chi phí cải tạo đất, cải tạo nhà, chi phí san lấp mặt bằng…
Ví dụ: Ông A chuyển nhượng QSD đất với giá tại thời điểm chuyển nhượng là 1.000 triệu (1 tỷ); Giá mua QSD đất đó trước đây là 800 triệu; Các chi phí đầu tư vào đất có liên quan (chi phí san lấp mặt bằng, cải tạo nhà…) là 100 triệu. Vậy thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với trường hợp trên là: (1.000 – 800 – 100) triệu x 25% = 25 triệu đồng.
- Trường hợp 2: Khi không xác định được giá mua và chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản thì thu nhập chịu thuế được xác định là giá chuyển nhượng bất động sản. Thuế suất theo quy định đối với trường hợp này là 2%.
Ví dụ: Giá QSD đất tại thời điểm chuyển nhượng là 1.000 triệu (1 tỷ). Vậy thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với trường hợp trên là: 1.000 triệu x 2% = 20 triệu đồng.
Qua hai trường hợp với hai mức thuế suất nêu trên, người dân có thể tính toán để kê khai nộp thuế theo cách nào có lợi hơn cho mình.
Các trường hợp được miễn thuế: Theo quy định tại Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân, thì các trường hợp chuyển nhượng quyền sử đất và tài sản gắn liền với đất sau đây được miễn thuế : Giữa vợ với chồng; Cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; Cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; Cha chồng, mẹ chồng với con dâu; Cha vợ, mẹ vợ với con rể; Ông nội/ngoại, bà nội/ngoại với cháu nội/ngoại; Anh chị em ruột với nhau; Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất.

Lê Uyên




28/11/2008 12:00 SAĐã ban hành
HỘI THẢO VỀ CÔNG TÁC ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒHỘI THẢO VỀ CÔNG TÁC ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ
Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực đo đạc và bản đồ trên địa bản thời gian tới, đảm bảo các công trình đo đạc thật sự hiệu quả, chất lượng sản phẩm được nâng cao đúng theo quy trình quy phạm, đáp ứng kịp thời theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị và người dân. Ngày 26/02/2010 Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức Hội thảo về công tác đo đạc và bản đồ, tham dự hội thảo gồm có: ông Trương Duy Hải GĐ Sở, Nguyễn Văn Chinh P.GĐ Sở. ông Võ Văn Chiến đại diện UBND tỉnh; BQLDA Sở Giao Thông, Sở Xây dựng; Văn phòng ĐKQSDĐ Bến Tre; BQLDA Khu Công nghiệp; Uỷ ban nhân dân, Phòng Tài nguyên và Môi trường, BQLDA các huyện, thành phố và các công ty đo đạc tư nhân trên địa bàn tỉnh Bến Tre.



Trong không khí sôi nổi buổi hội thảo, có rất nhiều ý kiến đóng góp từ đại biểu tham dự là đại diện các cơ quan, ban ngành tỉnh, huyện và các đơn vị đo đạc tư nhân về những khó khăn, vướng mắc liên quan đến công tác đo đạc và bản đồ trong thời gian qua, tập trung những vấn đề sau:
- Công tác phối hợp thực hiện giữa các ngành, cơ quan, đơn vị có liên quan chưa được chặt chẽ và thật sự thông suốt, thống nhất và đồng bộ;
- Việc đọc tìm hiểu và thực hiện theo các hướng dẫn, quy trình quy phạm trong đo đạc địa chính của các đơn vị hoạt động đo đạc là chưa đầy đủ; Việc khai thác, ứng dụng công nghệ, phần mềm, thiết bị chuyên ngành hiện có của các đơn vị đo đạc là chưa hiệu quả so với năng lực đăng ký hoạt động nên chất luợng sản phẩm đo đạc chưa cao.
- Về con người (nhân lực) để thực hiện công tác này còn khiêm tốn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, mà đây là yếu tố không kém phần quan trọng và ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện công trình và chất lượng sản phẩm công trình đo đạc;
- Về công nghệ (trang thiết bị, máy móc): cũng còn hạn chế và không đồng đều giữa các đơn vị với nhau.
- Nhiều công trình xây dựng mới hoặc mở rộng về giao thông, thủy lợi. . . của các ngành khi thi công đã làm hư hỏng, sai lệch nhiều mốc địa chính, điểm tọa độ nhà nước nhưng không báo cáo cơ quan, đơn vị quản lý;
- Công tác đo đạc công trình thu hồi đất - GPMB (đặc biệt là những công trình trọng điểm) theo chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh chưa thật sự đảm bảo đúng thời quy định.
- Công tác đo đạc dịch vụ địa chính theo yêu cầu của người sử dụng đất, người dân bị phản ánh nhiều do giải quyết chậm làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất,…
Một số hình ảnh cảnh quan hội thảo:


















Qua hội thảo, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ tổng hợp những ý kiến đóng góp của Quý vị đại biểu. Trên cơ sở này, Sở Tài nguyên và Môi trường xây dựng kế hoạch và có giảp pháp cụ thể nhằm chấn chỉnh công tác đo đạc và bản đồ để đáp ứng kịp thời sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà trước tình hình mới.

Văn Đỉnh


04/03/2010 12:00 SAĐã ban hành
TỌA ĐÀM GIỮA CÁC NÔNG DÂN ĐIỂN HÌNH TIÊN TIẾN VỚI CÁC SỞ, NGÀNH TỈNHTỌA ĐÀM GIỮA CÁC NÔNG DÂN ĐIỂN HÌNH TIÊN TIẾN VỚI CÁC SỞ, NGÀNH TỈNH
Ngày 11 tháng 12 năm 2009 tại Nhà Thiếu nhi tỉnh diễn ra Hội nghị Nông dân điển hình tiên tiến tỉnh Bến Tre lần thứ V/2009 do Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh Bến Tre phối hợp cùng các ngành chức năng tổ chức.



Tại Hội nghị Quý đại biểu được nghe báo cáo tổng kết phong trào thi đua giai đoạn 2007 – 2009, ý kiến chỉ đạo của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, của Tỉnh ủy Bến Tre và phát động phong trào thi đua Nông dân điển hình tiên tiến giai đoạn 2010 – 2013. Đặc biệt, Hội nghị đã diễn ra chương trình tọa đàm giữa các nông dân điển hình với các sở, ngành tỉnh như: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung tâm khuyến nông, khuyến ngư Bến Tre, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Lao động thương binh và Xã hội, Sở Tài nguyên và Môi trường.
Trong phần tọa đàm về lĩnh vực môi trường, câu hỏi được đặt ra cho Sở Tài nguyên và Môi trường là:
Hiện nay các hoạt động kinh tế của các ngành nghề ở nông thôn rất ít khi chú trọng tới môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh có ý kiến gì về thực trạng này và hướng khắc phục như thế nào?
Với câu hỏi đó, đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường, bà Nguyễn Thị Thúy đã trả lời:
Trước tiên, xin cám ơn Hội Nông dân tỉnh đã tạo điều kiện để Sở Tài nguyên và Môi trường được tham gia chương trình tọa đàm với nông dân điển hình tiên tiến lần thứ V/2009 để trao đổi về lĩnh vực môi trường. Qua đây, hy vọng bà con nông dân sẽ nhận thức sâu hơn trách nhiệm của mỗi người phải tham gia bảo vệ môi trường để thực hiện phát triển sản xuất đi đôi với bảo vệ môi trường.
Câu hỏi được đặt ra rất sát với thực tế và đây cũng là vấn đề mà Sở Tài nguyên và Môi trường quan tâm vì:
Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong thời gian gần đây Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện tăng cường công tác khảo sát, điều tra và kiểm tra việc bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất, kinh doanh với nhiều loại hình ngành nghề khác nhau. Qua đó, nhận thấy đa số các cơ sở sản xuất kinh doanh chưa đầu tư xử lý các chất thải phát sinh, một số cơ sở có xử lý chất thải nhưng chưa đạt theo tiêu chuẩn môi trường. Nhất là đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ và các ngành nghề nông nghiệp ở nông thôn rất ít chú trọng tới bảo vệ môi trường như: sử dụng thuốc bảo vệ thực vật chưa hợp lý, chuồng trại chăn nuôi chưa đảm bảo, vứt rác thải bừa bãi, xả chất thải trực tiếp xuống sông rạch,.. làm ảnh hưởng đến môi trường đất, nước, không khí.
Thực trạng này xảy ra liên quan đến rất nhiều yếu tố mà quan trọng nhất là do nhận thức và kinh tế của người dân. Do chưa có nhận thức cao về vai trò của môi trường, trách nhiệm bảo vệ môi trường, đặc biệt là tác hại của ô nhiễm môi trường đối với đời sống và sản xuất của cộng đồng nên ít quan tâm bảo vệ môi trường.
Mặt khác, do kinh tế khó khăn nên để đáp ứng nhu cầu cuộc sống người dân thường chú trọng phát triển kinh tế, và cho rằng đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư không lợi nhuận nên đã xả thải vào môi trường làm cho môi trường bị tác động xấu. Nếu cứ để tình trạng này xảy ra liên tục mà không có cách khắc phục thì về lâu dài sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống và hoạt động sản xuất tại khu vực nông thôn.
Để khắc phục tình trạng này, định hướng sắp tới Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ:
- Tăng cường các hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường, thực hiện phát triển sản xuất phải đi đôi với bảo vệ môi trường để duy trì chất lượng cuộc sống.
- Thực hiện thanh kiểm tra để nhắc nhở và xử lý các trường hợp vi phạm quy định về bảo vệ môi trường.
- Xây dựng các mô hình điểm xử lý chất thải phù hợp với quy định về bảo vệ môi trường và kinh tế của người dân.
- Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh cần áp dụng các mô hình sản xuất sạch, xử lý chất thải phát sinh, áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để nhằm tăng năng suất trong nông nghiệp, hạn chế tối đa việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu quá liều, quá hạn sử dụng và không được phép sử dụng. Đẩy mạnh các mô hình trồng rau sạch, mô hình canh tác nông nghiệp bền vững, xây dựng chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh.
- Đặc biệt là ngành Tài nguyên Môi trường luôn cần có sự phối hợp của các nhà quản lý, các cấp có thẩm quyền, các cơ quan chức năng và các tổ chức đoàn thể trong đó có Hội Nông dân và trong thời gian qua từ khi ký kết kế hoạch liên tịch với Sở Tài nguyên và Môi trường vào năm 2005 thì Hội Nông dân đã thực hiện tốt vai trò của mình và tham gia tích cực vào việc bảo vệ môi trường, mang lại kết quả cao cho công tác bảo vệ môi trường. Sự phối hợp, hỗ trợ của các ngành, các cấp và các tổ chức đoàn thể nhằm giúp cho công tác bảo vệ môi trường được tốt hơn, duy trì và cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.
N.T



18/12/2009 12:00 SAĐã ban hành
Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ môi trườngVai trò của cộng đồng trong bảo vệ môi trường
Cộng đồng là một tập hợp công dân cư trú trong một khu vực địa lý, hợp tác với nhau về những lợi ích chung và chia sẻ những giá trị văn hoá chung.



Một số tổ chức chính trị - xã hội cũng có thể đại diện cho cộng đồng như: Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân...
Sự tham gia của cộng đồng vào bảo vệ môi trường (BVMT) khác với sự tham gia của từng cá nhân, bởi vì trước hết cộng đồng là một tập hợp dân cư có lịch sử gắn bó lâu dài và chia sẻ nhiều đặc điểm chung. Chính vì vậy, cộng đồng là một tổng thể nên có những nét chung mà từng cá nhân tạo nên cộng đồng không có.
* Cộng đồng có vai trò gì trong công tác bảo vệ môi trường?
Những tính chất có sức mạnh nổi bật của cộng đồng là: tính đoàn kết, gắn bó, hỗ trợ lẫn nhau vì quyền lợi chung (sức mạnh tập thể bao giờ cũng lớn hơn sức mạnh cá nhân); sự sáng tạo và duy trì các kiến thức bản địa; lòng tự hào về truyền thống của làng xóm, của quê hương gắn với tình yêu dân tộc, đó cũng chính là cuội nguồn lớn nhất của sức mạnh cộng đồng. Hiện nay, công tác BVMT đang đứng trước thách thức to lớn, khi mà nhu cầu về một môi trường sống trong lành và an toàn luôn mâu thuẫn với nhu cầu hưởng thụ một đời sống vật chất sung túc. Nói cách khác, công tác BVMT đang phải đối mặt với các mẫu thuẫn trong suy nghĩ, thái độ, hành vi về môi trường giữa các nhóm người khác nhau trong xã hội, giữa người này với người khác và ngay cả trong bản thân một con người. Để quản lý môi trường có hiệu quả, trước hết cần dựa vào các cộng đồng. Các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường phải là thể thống nhất, hài hoà và có sự tham gia của tất cả các cá nhân cũng như các tổ chức trong việc chăm sóc môi trường ở cơ sở để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. BVMT ở cơ sở xã, phường, thị trấn là một vấn đề còn mới mẻ, nhưng rất bức bách và gắn liền với lợi ích của cộng đồng. Sự tham gia của cộng đồng vào BVMT là một trong những giải pháp quan trọng của công tác quản lý, BVMT ở địa phương, vì qua các cấp quản lý hành chính (từ Trung ương đến cơ sở) thì càng xuống cấp thấp hơn vai trò của người dân càng trở nên quan trọng. Sự tham gia của cộng đồng vào BVMT không chỉ tạo thêm nguồn lực tại chỗ cho sự nghiệp BVMT, mà còn là lực lượng giám sát môi trường nhanh và hiệu quả, giúp cho các cơ quan quản lý môi trường giải quyết kịp thời sự ô nhiễm môi trường ngay từ khi mới xuất hiện.
* Thế nào là sự tham gia của cộng đồng trong BVMT?
Sự tham gia của cộng đồng là việc một cộng đồng được tham gia tư vấn ý kiến, tỏ thái độ và mối quan tâm của họ về một kế hoạch phát triển hay một qui hoạch phát triển kinh tế vùng, khu vực, hoặc kế hoạch sử dụng tài nguyên. Đây là cơ hội để người dân có thể bày tỏ ý kiến của mình và bằng cách đó họ có thể làm ảnh hưởng đến sự ra quyết định của cấp có thẩm quyền. Điều này sẽ tác động rất lớn đến kế hoạch của một vùng rộng lớn, hoặc cũng có thể là một dự án nhỏ.
Hình thức tham gia của cộng đồng có thể khác nhau: có thể là một chính sách về môi trường, qui hoạch vùng, xây dựng các nhà máy, khu công nghiệp. Mức độ và loại hình tham gia của cộng đồng ở từng vùng mang tính đặc trưng riêng, đặc biệt còn tùy thuộc vào tâm lý, trình độ dân trí và khả năng nhận thức những vấn đề liên quan đến ý kiến tham vấn, đóng góp của cộng đồng.
* Tại sao cần có sự tham gia của cộng đồng?
Những quyết định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng tài nguyên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của cộng đồng khu vực. Những người phải chịu tác động bao gồm những người sống, làm việc, học tập và người thường qua lại trong khu vực đó; do đó sự cần thiết phải có những ý kiến về những gì họ đang làm, những gì họ đang muốn, họ đang tìm hiểu.
Vai trò của cộng đồng trong quá trình giám sát và cưỡng chế tuân thủ Luật BVMT gồm: ngăn ngừa các hành vi vi phạm, phát hiện sự cố môi trường và các vi phạm, đấu tranh với các hành vi vi phạm.
Phụ nữ đóng vai trò gì trong việc bảo vệ môi trường?
Trong xã hội, phụ nữ là những người tạo nên các mối liên hệ với môi trường:
● Trực tiếp gắn bó với thiên nhiên, môi trường trong sinh hoạt hàng ngày.
● Là đối tượng nhạy cảm chịu ảnh hưởng trực tiếp của các chất ô nhiễm trong sinh hoạt, sản xuất.
● Là đối tượng nhạy cảm chịu ảnh hưởng trực tiếp của việc ô nhiễm và suy thoái tài nguyên: nước, không khí, rừng,...
● Là người vất vả nhất khi gia đình chịu tác động tiêu cực của môi trường.
● Người mẹ bị ốm do ô nhiễm sẽ ảnh hưởng lớn đến đời sống gia đình và thai nhi.
● Là người có trách nhiệm về sự hình thành ý thức và tính cách của trẻ em trong quan hệ với môi trường.
● Là người nội trợ chính của gia đình, vừa chăm lo về chất lượng của từng bữa ăn, vừa đảm bảo vệ sinh thực phẩm và nề nếp sinh hoạt hợp vệ sinh của gia đình.
● Là một trong những tác nhân gây ô nhiễm và suy thoái môi trường.
● Phụ nữ ngày càng đóng vai trò quan trọng ở gia đình và xã hội.
● Do đó, phụ nữ vừa là đối tượng vừa là chủ thể quan trọng của công tác bảo vệ môi trường.

N.T



20/11/2009 12:00 SAĐã ban hành
Các yếu tố ảnh hưởng đến xu thế xâm nhập mặn ở tỉnh Bến TreCác yếu tố ảnh hưởng đến xu thế xâm nhập mặn ở tỉnh Bến Tre
Bến Tre là một trong 13 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Vị trí địa lý, phía Đông giáp với biển Đông nên hệ thống sông ngòi, kênh rạch chịu ảnh hưởng chủ yếu của triều biển Đông. Do vậy, nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh thường bị xâm nhập mặn, nhất là vào mùa khô, qua 3 cửa sông: cửa Đại, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên.



Nguồn nước mặt trong tỉnh khá phong phú nhưng trên ¾ diện tích toàn tỉnh (nước trong hệ thống sông ngòi, kênh rạch và vùng trũng thấp) bị nhiễm mặn từ: 2 – 3 tháng hoặc quanh năm. Bến Tre thường thiếu nước ngọt trong mùa khô và vấn đề xâm nhập mặn hầu như ảnh hưởng đến toàn bộ diện tích của tỉnh; ngoài ra, các hoạt động phát triển kinh tế xã hội cũng góp phần làm cho tình hình xâm nhập mặn ảnh hưởng trên diện rộng và ngày càng sâu sắc hơn. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến xu thế xâm nhập mặn ở Bến Tre:
- Thứ nhất là do địa hình của tỉnh Bến Tre có dạng hình quạt nan, nhìn chung tương đối bằng phẳng, có xu thế thấp dần từ hướng Tây Bắc xuống hướng Đông Nam và nghiêng ra biển.
Có 3 dạng địa hình cơ bản: Vùng địa hình thấp có độ cao dưới 01 m: bị ngập nước khi triều lên bao gồm một số đất ruộng ở lòng chảo xa sông, các bãi triều ven sông, bãi bồi ven biển và khu vực rừng ngập mặn, chiếm 6,7% diện tích toàn tỉnh. Vùng địa hình trung bình có độ cao từ 1 – 2 m: là vùng đất ngập trung bình họăc ít ngập theo triều, chỉ bị ngập khi triều cường vào tháng 9 – 12, chiếm khoảng 87,5% diện tích toàn tỉnh. Vùng có địa hình cao có cao độ từ 2 – 3,5 m, có nơi cao trên 5 m, chiếm 5,8% diện tích toàn tỉnh.
Chính vì đặc điểm địa hình trên, với 94,2% diện tích tự nhiên bị ảnh hưởng của thủy triều nên việc xâm nhập mặn do thủy triều chiếm ưu thế ở tỉnh Bến Tre.
- Thứ hai là do Tỉnh có nhiệt độ và số giờ nắng trung bình cao, kết hợp với lượng mưa trung bình không cao cùng với gió chướng đã tạo điều kiện cho nước mặn xâm nhập dễ hơn và sâu hơn vào trong đất liền.
- Thứ ba là do Tỉnh có hệ thống sông, kênh, rạch chằng chịt. Bến Tre có 45 kênh rạch chính với tổng chiều dài 383 km và 04 nhánh sông chính của hệ thống sông Cửu Long là: sông Tiền Giang dài 90 km, lưu lượng mùa mưa: 6.480 m3/s, mùa khô 1.598 m3/s; sông Ba Lai dài 70 km, lưu lượng mùa mưa: 240 m3/s, mùa khô 59 m3/s; sông Hàm Luông dài 72 km, lưu lượng mùa mưa: 3.360 m3/s, mùa khô 829 m3/s và sông Cổ Chiên dài 87 km, lưu lượng mùa mưa: 2.280 m3/s, mùa khô 710 m3/s.
- Thứ tư là do Bến Tre có chế độ triều Biển Đông là chế độ bán nhật triều không đều, mỗi ngày có hai lần nước lên và hai lần nước xuống. Hàng tháng có hai kỳ triều cường (03 và 17 âm lịch) và hai kỳ triều kém (10 và 25 âm lịch). Đỉnh triều bình quân trong năm cao nhất vào tháng 10 (130 cm), tháng 11 (132 cm), chân triều bình quân cao nhất vào tháng 1 (39 cm), thấp nhất vào tháng 6 (-154 cm), tháng 7 (-146 cm) với biên độ triều trong năm biến thiên từ 201 – 241 cm.
- Thứ năm là tỉnh có một số hướng sóng nguy hiểm, như: hướng Đông Bắc, Đông, Đông Nam. Theo vận tốc gió khác nhau cho độ cao sóng ở Bến Tre không lớn lắm (từ 0,3 – 1,5) và giảm từ ngoài khơi vào bờ với chu kỳ sóng từ 3 – 6 giây. Hệ thống sông rạch với dòng chảy nhỏ, lưu lượng thấp, địa hình bằng phẳng kết hợp với hướng sóng đánh vuông góc với bờ biển nên thủy triều dễ dàng xâm nhập vào sâu trong đất liền.
Trong mùa khô kiệt hàng năm (từ tháng 1 - 4), lượng nước mưa hầu như không đáng kể, nguồn nước ngọt duy nhất vào hệ thống sông ngòi của Tỉnh là nguồn nước sông Tiền (được tiếp nước từ dòng chảy thượng nguồn sông Mêkông) trùng với thời kỳ lưu lượng thượng nguồn tương đối nhỏ và nhỏ nhất vào tháng IV; nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp lớn, độ dốc lòng sông nhỏ, địa hình khá bằng phẳng tạo điều kiện thuận lợi cho nước mặn theo sông rạch vào đất liền.
Tác động tương hỗ giữa dòng chảy sông và động lực biển gây ảnh hưởng trực tiếp đến các khu vực ven biển, đặc biệt mực nước sông xuống thấp; dòng chảy ra biển không đủ mạnh để ngăn nước mặn chảy ngược vào cùng với triều cường có thể đẩy ngược nước mặn vào sâu trong sông và hệ thống kênh rạch tạo ra một vùng nước nhiễm mặn với các nồng độ khác nhau.
- Thứ sáu là do diện tích đất nuôi trồng thủy sản tăng nhanh, gần 10 lần trong vòng 18 năm trở lại đây và có khuynh hướng chựng lại kể từ năm 2000. Nguyên nhân của sự gia tăng này, chủ yếu do việc mở rộng đất nuôi tôm biển vùng ven biển Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú. Chính việc gia tăng diện tích đất nuôi trồng thủy sản đồng nghĩa với việc một diện tích lớn rừng ngập mặn bị phá hủy. Rừng ngập mặn mất đi làm cho thủy triều, sóng biển dễ xâm nhập vào đất liền gây ra xâm nhập mặn. Bên cạnh đó, để phục vụ cho nuôi tôm, người dân đã dẫn nước mặn từ biển vào các vuông tôm làm cho độ măn trong đất và nước ở đây tăng cao.
- Thứ bảy là do việc khai thác nước ngầm để sử dụng là một vấn đề tất yếu ở tỉnh Bến Tre, vì hầu hết nguồn nước mặt của tỉnh là bị nhiễm phèn, mặn. Tuy nhiên, do gia tăng dân số, phát triển kinh tế xã hội, bùng nổ các hoạt động nuôi tôm làm cho việc khai thác nước ngầm ở đây hoạt động rất mạnh mẽ. Chính vì việc khai thác nước ngầm quá mức đã làm cạn kiệt nguồn nước ngầm. Nước mặn từ biển và tầng nước mặn dễ thẩm thấu vào tầng nước ngầm gây nhiễm mặn nước ngầm.
- Thứ tám là do hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng đang bước đầu được hình thành. Tuy nhiên, do vùng nuôi và phương thức nuôi chưa được xác định ổn định nên ngoại trừ một số vùng nuôi công nghiệp – bán công nghiệp đang xây dựng hệ thống cấp và tiêu nước riêng biệt với các công trình đầu mối quan trọng, các vùng còn lại chỉ mới bước đầu định hình hệ thống thủy lợi.
Xâm nhập mặn là vấn đề quan trọng ở tỉnh Bến Tre. Hiện nay, dù đã xây dựng nhiều hệ thống thủy lợi để ngăn mặn nhưng độ mặn trong môi trường đất, nước vẫn ảnh hưởng đến tài nguyên, sinh vật và hoạt động sống của con người nơi đây. Trong những năm gần đây, tình trạng xâm nhập mặn cả về nồng độ lẫn chiều sâu vào nội địa ở tỉnh Bến Tre đang là vấn đề nóng và cần phải được quan tâm giải quyết cũng như có biện pháp phòng tránh để phục vụ sản xuất và nguồn nước sinh hoạt ở địa phương.
Theo dự báo đến năm 2010 và hơn nữa đồng bằng sông Cửu Long phải đối đầu với việc thiếu hụt nguồn nước, hạn hán kéo dài và nhu cầu sử dụng nước của các nước thượng lưu, tình trạng này dẫn đến nguy cơ xâm nhập mặn sâu hơn gây khó khăn cho việc cấp nước ngọt phục vụ sản xuất sinh hoạt và tỉnh Bến Tre không nằm ngoài nguy cơ đó.
Mai Hanh



20/11/2009 12:00 SAĐã ban hành
Kết quả kiểm tra công tác bảo vệ môi trường các cơ sở dịch vụ du lịch  trên địa bàn tỉnh Bến TreKết quả kiểm tra công tác bảo vệ môi trường các cơ sở dịch vụ du lịch  trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Nhằm bảo vệ môi trường du lịch, ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường trong quá trình tiến hành các hoạt động du lịch, bảo đảm phát triển du lịch một cách bền vững, góp phần bảo vệ môi trường của tỉnh.



Để đánh giá, dự báo, phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm và làm sạch môi trường tại các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh, Chi cục Bảo vệ môi trường và Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Châu Thành, Chợ Lách và thành phố Bến Tre; Ủy ban nhân dân xã Tân Thạch, An Khánh, Phú Túc, huyện Châu Thành; Ủy ban nhân dân xã Sơn Định, huyện Chợ Lách; Ủy ban nhân dân xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre tiến hành kiểm tra công tác bảo vệ môi trường và hoạt động du lịch tại 10 cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh.
Trong 10 cơ sở có: 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực du lịch nghĩ dưỡng (khách sạn, ăn uống,….); 03 cơ sở hoạt động lĩnh vực ăn uống; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực lữ hành nội địa; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực ăn uống, khách sạn, karaoke, lữ hành nội địa; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực ăn uống, khách sạn, giải trí môtô nước; 02 cơ sở hoạt động lĩnh vực sản xuất kẹo dừa, giải khát; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực thực hiện hợp đồng và giới thiệu tour cho khách du lịch.
Vì đặc thù của loại hình hoạt động là thường xuyên tiếp đón khách du lịch, nên công tác xây dựng và giữ gìn cảnh quan môi trường của các cơ sở rất tốt, khuôn viên cơ sở thoáng mát, sạch đẹp. Tuy nhiên, ý thức bảo vệ môi trường và ý thức tuân thủ các quy định về hoạt động du lịch của các cơ sở chưa cao, còn nhiều hạn chế.
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: Trong 10 cơ sở, có 01 cơ sở thuộc đối tượng lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và 09 cơ sở thuộc đối tượng lập bản cam kết bảo vệ môi trường. Có 06/10 cơ sở đã đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành hoặc thành phố Bến Tre cấp giấy xác nhận Bản cam kết bảo vệ môi trường. Trong đó, có 01 cơ sở phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường thay thế cho bản cam kết bảo vệ môi trường đã được xác nhận, do quy hoạch diện tích đất của dự án hiện nay là 21 ha, so với diện tích đất của dự án lúc mới thành lập chỉ có 11.490 m2. Có 02/10 cơ sở thực hiện báo cáo chương trình giám sát môi trường định kỳ.
Có 08 cơ sở xây dựng hầm tự hoại để xử lý nước thải, 02 cơ sở thải trực tiếp nước thải ra môi trường. Có 07/10 cơ sở trang bị dụng cụ phòng cháy chữa cháy.
Đối với cơ sở phải thực hiện các quy định đặc thù với quy mô và loại hình hoạt động: có 01/01 cơ sở không đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại và xây dựng phương án ứng phó sự cố môi trường; có 02/02 cơ sở không đăng ký giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; 01/01 cơ sở không đăng ký giấy phép khai thác nước ngầm và nước mặt.
Trong lĩnh vực hoạt động du lịch: Có 05/10 cơ sở chưa niêm yết công khai giá cả hàng hóa, dịch vụ du lịch; có 08/10 cơ sở treo bảng hiệu. Đối với các cơ sở phải thực hiện các quy định đặc thù với loại hình hoạt động: có 01/05 cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm; có 02/02 cơ sở sử dụng hướng dẫn viên du lịch không có thẻ hành nghề, chưa đăng ký xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch và giấy phép kinh doanh rượu, thuốc lá.
Với thực trạng công tác bảo vệ môi trường và hoạt động du lịch của các cơ sở dịch vụ du lịch như trên, thời gian tới, Chi cục Bảo vệ môi trường sẽ phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan thường xuyên kiểm tra các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và hoạt động du lịch của các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, Chi cục Bảo vệ môi trường kiến nghị: Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiến hành phúc tra sau 45 ngày kể từ ngày lập biên bản và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hiện hành đối với các cơ sở không thực hiện các kiến nghị của Đoàn kiểm tra. Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố thường xuyên tiến hành kiểm tra, thanh tra các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn.


09/05/2011 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo mời thầuNewThông báo mời thầu
Thông báo mời thầu - Gói thầu: Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre và Công bố, công khai kết quả Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre

​Tên bên mời thầu: Chi cục Quản lý đất đai tỉnh Bến Tre

Tên gói thầu: Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre và Công bố, công khai kết quả Điều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Bến Tre

Nguồn vốn: Sự nghiệp kinh tế năm 2017 và năm 2018

Hình thức lựa chọn nhà thầu: Đấu thầu rộng rãi trong nước

Phương thức lựa chọn nhà thầu: Một giai đoạn 02 túi hồ sơ

Tải nội dung thông báo: 98_TB_CCQLDD.pdf

24/11/2017 3:00 CHĐã ban hành
Thông báo về việc góp ý dự thảo văn bảnThông báo về việc góp ý dự thảo văn bản
Góp ý dự thảo Quyết định Ban hành quy chế thực hiện dân chủ trong công tác thu hồi đất; Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn tỉnh Bến Tre

I. Nội dung

    Sở Tài nguyên và Môi trường đã Dự thảo Quyết định  Ban hành quy chế thực hiện dân chủ trong công tác thu hồi đất; Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

    Để hoàn chỉnh Dự thảo Quyết định và có cơ sở trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành, Sở Tài nguyên và Môi trường kính đề nghị quý cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân đóng góp ý kiến Dự thảo Quyết định và gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường.

II. Thời gian

    Thời gian góp ý dự thảo văn bản: Từ ngày 21/11/2017 đến ngày 21/12/2017

III. Địa chỉ nhận góp ý

    Các ý kiến đóng góp về Dự thảo Quyết định của quý cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân gửi về Chi cục Quản lý đất đai - Sở Tài nguyên và Môi trường.

   - Tiếp nhận góp ý qua bưu điện hoặc trực tiếp: Chi cục Quản lý đất đai - Số 01, đường Trần Quốc Tuấn, Phường 2, Tp. Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

     - Tiếp nhận góp ý qua thư điện tử: ccqldd.stnmt@bentre.gov.vn

Tải nội dung: DuThao_QuyetDinh.zip

21/11/2017 2:00 CHĐã ban hành
NĂM 2007 NAM BỘ NÓNG THÊM 1 ĐỘ CNĂM 2007 NAM BỘ NÓNG THÊM 1 ĐỘ C
Từ đây đến cuối năm, dự kiến còn 5-6 cơn bão và áp thấp nhiệt đới gây ảnh hưởng đến nước ta. Nhiệt độ ở khu vực Nam Bộ đang nóng lên.Tại Hội nghị Phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn và ứng cứu sự cố tràn dầu khu vực miền Nam tổ chức sáng 6/9 ở TP.HCM, đại diện Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ cho biết, nhiệt độ trung bình ở khu vực Nam Bộ cao hơn nhiệt độ trung bình nhiều năm khoảng 1oC. Và cũng theo nhận định của cơ quan này, từ đây đến cuối năm, dự kiến còn 5-6 cơn bão và áp thấp nhiệt đới gây ảnh hưởng đến nước ta. Nguy cơ bão đổ bộ vào các tỉnh phía Nam là không nhỏ...



Báo cáo của Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương cho biết, trong năm 2006 thiên tai đã xảy ra trên phạm vi cả nước gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản, cơ sở hạ tầng, gây khó khăn cho sản xuất đời sống của nhân dân. Tổng cộng trong năm 2006, có tới 10 cơn bão và 4 áp thấp nhiệt đới hoạt động trên biển Đông (tên quốc tế là Chanchu, Sangxane, Cimaron và Durian) gây thiệt hại nghiêm trọng đối với các tỉnh Nam Bộ. Trong năm 2006, thiên tai đã làm 312 người chết, 1.721 người bị thương, 65 người mất tích, hàng chục ngàn căn nhà đổ sập, tốc mái... ước tính thiệt hại vào khoảng 7.146 tỷ đồng.

Theo nhận định của Trưởng Ban Chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương Cao Đức Phát, công tác phòng chống lụt bão cho ngư dân ven biển vừa qua vẫn thể hiện sự chủ quan, coi thường các biện pháp bảo đảm an toàn khi đi biển của ngư dân. Hệ thống thông tin liên lạc giữa các tàu thuyền đánh cá với nhau và với đất liền không được duy trì thường xuyên, nhất là những khi xảy ra sự cố. “Cần nhân rộng mô hình hỗ trợ, ứng cứu trên biển nhằm giảm thiểu thiệt hại tính mạng của ngư dân”- ông Phát nói.

Về sự cố dầu loang trên mặt biển xuất hiện ở vùng biển từ Hà Tĩnh đến Quảng Ngãi, Bình Thuận, Tiền Giang, Bà Rịa- Vũng Tàu, cơ quan chức năng cho biết đến nay hiện tượng dầu tràn đã tấn công vùng biển của 13 tỉnh, TP từ Bắc vào Nam, tạo thành một vấn nạn quốc gia, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường biển và các hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản, du lịch ở nhiều tỉnh ven biển nước ta. Tuy nhiên, cho đến giờ, nguyên nhân gây ra sự cố tràn dầu vẫn chưa thể xác định được.


Trần Duy



11/09/2007 12:00 SAĐã ban hành
Thực trạng công tác bảo tồn đa dạng sinh học của tỉnh Bến TreThực trạng công tác bảo tồn đa dạng sinh học của tỉnh Bến Tre
Bến Tre được đánh giá là một trong những tỉnh có đa dạng sinh học cao của Việt Nam. Đây là một tài sản vô giá, có ý nghĩa lớn không chỉ cho khoa học mà còn là nguồn lợi kinh tế do thiên nhiên ban tặng.



Công tác bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên đa dạng sinh học tỉnh Bến Tre là vô cùng quan trọng, mang tính chiến lược. Để thực hiện nhiệm vụ trên Ủy ban nhân dân tỉnh đã đề ra nhiều biện pháp, cùng với các chính sách kèm theo nhằm bảo vệ tốt hơn tài nguyên ĐDSH của tỉnh. Trong những năm qua, cùng với những nổ lực về bảo tồn đa dạng sinh học, công tác điều tra nghiên cứu về đa dạng sinh học của các cơ quan trong tỉnh Bến Tre quan tâm thực hiện.
Đồng thời, để ngăn ngừa sự suy thoái đa dạng sinh học, tỉnh Bến Tre đã tiến hành công tác bảo tồn đa dạng sinh học khá sớm. Hình thức bảo tồn ĐDSH phổ biến được áp dụng ở tỉnh là bảo tồn tại chỗ, là hình thức thành lập các khu bảo tồn và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp. Kết quả của phương pháp bảo tồn này thể hiện rõ rệt nhất là đã xây dựng và đưa vào hoạt động một hệ thống rừng phòng hộ, đặc dụng và khu bảo tồn thiên nhiên. Các khu bảo tồn hiện nay trên địa bàn tỉnh Bến Tre gồm:
Năm 1999, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú nhằm bảo vệ vùng đất và rừng ngập mặn ven biển cửa sông Cổ Chiên, bảo tồn các giá trị độc đáo về đa dạng sinh học và các đặc trưng địa mạo tự nhiên của vùng đất ngập nước như một mẫu chuẩn sinh thái Quốc gia, đồng thời bảo đảm quá trình diễn thái theo quy luật tự nhiên về địa mạo và thủy văn vùng cửa sông Cổ Chiên.
Các nhà khoa học đã thống kê được trong khu bảo tồn thiên nhiên Thạnh Phú có 119 loài thuộc 45 họ thực vật. Diện tích rừng hiện nay tại khu bảo tồn là 2.043 ha, được chia ra làm 4 phân khu. Những vùng bãi biển ngập triều và các kênh rạch của khu bảo tồn khi nước triều xuống là những bãi ăn lý tưởng cho nhiều loài chim. Quần xã Mắm trắng dày đặc ở khu trảng lầy là nơi cư trú thích hợp cho nhiều loài bò sát, lưỡng cư và nhiều loài thú nhỏ, thống kê được: 27 loài bò sát, 08 loài lưỡng cư, 16 loài thú và 60 loài chim.
Vườn chim Vàm Hồ thuộc địa phận xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Vàm Hồ là vùng đất có nhiều loại cây hoang dã mọc thành rừng, là nơi trú ngụ của hàng nghìn con cò, vạc và nhiều loại chim khác. Quần thể chim ở sân chim Vàm Hồ gồm: 84 loài thuộc 35 họ và 12 bộ. Ở tầng cao có dừa nước (trước đây rất nhiều nên nơi này còn được gọi là cù lao Lá), chà là, đước, mắm, là nơi lý tưởng cho chim ở. Ở tầng thấp có cây ô rô, cóc kèn, lau sậy ... là thảm thực vật cho cò, vạc làm tổ sinh sản.
Quần thể thực vật vùng bưng trũng: là phần đất nằm xa sông rạch hoặc xen kẽ giữa các giồng cát ven biển, thường bị ngập nước do lũ hoặc thủy triều chiếm một diện tích khá rộng từ vùng mặn, lợ lên vùng ngọt. Thảm thực vật nguyên thủy khi xưa là khu rừng úng nước với ba kiểu rõ rệt tùy thuộc đặc điểm môi trường.
Hiện nay, tỷ lệ diện tích rừng trên diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bến Tre thuộc loại thấp nên cần phải có kế hoạch quy hoạch rừng một cách hợp lý, bảo vệ và phục hồi những khu rừng thoái hóa hiện có, phủ rừng trên diện tích đất còn bỏ hoang hóa, đẩy mạnh công tác vận động trồng cây trong nhân dân nhằm tăng diện tích cây xanh, đồng thời giảm bớt sức ép về nhu cầu gỗ xây dựng và chất đốt.
Bến Tre đã xây dựng những dự án nghiên cứu bảo vệ đa dạng sinh học và tiến hành khảo sát, thống kê thành phần loài động thực vật cũng như đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường nước và đề xuất biện pháp bảo vệ môi trường cho các vùng: đề tài “Điều tra đặc điểm sinh lý, sinh thái để bảo tồn đa dạng tài nguyên sinh học ốc gạo ở huyện Chợ Lách”, “Nghiên cứu, đánh giá đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật vùng cửa sông ven biển tỉnh Bến Tre, xây dựng các giải pháp quản lý và sử dụng hợp lý” và “Điều tra, khảo sát hiện trạng Tài nguyên Môi trường vùng biển ven bờ tỉnh Bến Tre và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường”... đây sẽ là cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và phát triển tài nguyên đa dạng sinh học của tỉnh.
Một số vấn đề tồn tại trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học hiện nay tại tỉnh là: Các hoạt động xâm lấn, vi phạm trong các khu bảo tồn còn xảy ra; nguồn ngân sách cung cấp cho bảo tồn còn hạn chế, chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách Nhà nước, các khu bảo tồn thuộc địa phương quản lý có nguồn ngân sách rất hạn chế cho các hoạt động bảo tồn, chưa có chính sách cụ thể để xã hội hóa công tác bảo tồn; một số chính sách về khu bảo tồn còn thiếu, như chính sách đầu tư, quản lý vùng đệm và việc đào tạo cán bộ về công tác bảo tồn còn hạn chế, nhất là cán bộ chuyên sâu về bảo tồn.
Từ những kết quả đạt được và những khó khăn còn tồn đọng, có thể đề xuất, định hướng công tác quản lý, phát triển bền vững khu bảo tồn như sau: Rà soát, điều chỉnh việc quy hoạch khu bảo tồn phù hợp với điều kiện thực tế; sắp xếp quy hoạch bố trí khu dân cư trong khu bảo tồn. Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn. Xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ cho các hoạt động quản lý bảo vệ trong khu bảo tồn. Xây dựng các chương trình đào tạo và tuyên truyền giáo dục vừa nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ của cán bộ trong khu bảo tồn đồng thời nâng cao ý thức người dân. Xây dựng kế hoạch quản lý bền vững tài nguyên của hệ sinh thái đất ngập nước (tài nguyên rừng ngập mặn, tài nguyên thủy sản, đa dạng sinh học). Thực hiện tái sinh, trồng mới rừng phòng hộ ven biển, thực hiện các hoạt động nuôi dưỡng rừng.

Mai Hanh



07/04/2010 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre khởi động dự án VLAPBến Tre khởi động dự án VLAP
<dd>Ngày 28/10/2008 Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre tổ chức hội nghị Khởi động dự án Hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (gọi tắt là VLAP) tại tỉnh Bến Tre, với sự tham dự của hơn 60 đại biểu bao gồm: Ban chỉ đạo, các Sở, ban, ngành tỉnh và huyện; Ông Nguyễn Quốc Bảo Phó chủ tịch  Uỷ ban nhân dân tỉnh chủ trì hội nghị;



Dự án VLAP có 9 tỉnh được chọn lựa tham gia, bao gồm: Hưng Yên, Hà Tây (nay là Hà Nội), Thái Bình, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, được Ngân hàng Thế giới tài trợ, cơ quan chủ quản cấp trung ương là Bộ Tài nguyên và Môi trường, cấp tỉnh là Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường là chủ dự án; Thời gian thực hiện dự án là 5 năm kể từ ngày 15/9/2008 (ngày Hiệp định Tài trợ được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Hiệp hội phát triển quốc tế có hiệu lực) dự kiến đến ngày 15/9/2013 kết thúc dự án.
Riêng tỉnh Bến Tre, những nội dung thực hiện dự án bao gồm:
- Kinh phí thực hiện dự án là 9.190.000 USD, trong đó vốn của Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA) 6.760.000 USD, vốn đối ứng từ ngân sách của tỉnh 2.430.000 USD;
- Đo đạc thành lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, chuẩn bị hồ sơ cấp mới/đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 75 xã tại các huyện Thạnh Phú, Chợ Lách, Mỏ Cày, Ba Tri và thị xã Bến Tre;
- Đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, chuẩn bị hồ sơ cấp mới/đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 64 xã, phường, thị trấn tại các huyện Châu Thành, Thạnh Phú, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm, Bình Đại và thị xã Bến Tre;
- Chuyển hệ tọa độ bản đồ địa chính từ hệ tọa độ HN-72 sang VN-2000 cho 31 xã, phường, thị trấn tại các huyện Châu Thành, Thạnh Phú, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm, Bình Đại và thị xã Bến Tre;
- Ngoài ra, dự án có những nội dung khác như: mua sắm trang thiết bị văn phòng, phương tiện đi lại cho ban quản lý dự án. Nâng cấp và đầu tư trang thiết bị đo đạc, thiết bị văn phòng, công nghệ thông tin hiện đại cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh và huyện, trang bị máy vi tính cho 160/160 xã, phường, thị trấn; đào tạo chuyên môn nâng cao trình độ cho cán bộ thực hiện dự án, cán bộ ngành cấp tỉnh, huyện và xã đảm bảo đủ khả năng tiếp nhận và sử dụng hiệu quả thành quả của dự án, cũng như tiếp tục duy trì và phát triển hệ thống sau khi kết thúc dự án.
Nhằm thực hiện thành công dự án VLAP tại tỉnh Bến Tre và đạt được mục tiêu của dự án, tăng cường sự tiếp cận của mọi đối tượng đối với dịch vụ thông tin đất đai. Tại hội nghị Ông Nguyễn Quốc Bảo đã chỉ đạo thực hiện một số nội dung, giải pháp giải quyết những khó khăn trong thực hiện dự án cho thời điểm hiện tại và suốt quá trình thực hiện dự án, cụ thể như sau:
- Tập trung nguồn lực cho việc thực hiện dự án, dù nguồn vốn đối ứng từ ngân sách của tỉnh là rất lớn, tuy nhiên dự án này tạo cơ hội cho tỉnh hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai với thời gian 5 năm, trong quá trình thực hiện, các vấn đề khó khăn có thể phát sinh, do đó các thành viên dự án nên chủ động, linh hoạt giải quyết;
- Cần nghiên cứu và thực hiện đúng quy trình giải ngân nguồn vốn ODA theo quy định của Ngân hàng Thế giới và đúng theo Hiệp định tài trợ;
- Ban quản lý dự án cần chú trọng thực hiện một số nội dung sau:tổ chức tốt công tác lập kế hoạch và giám sát dự án; Đào tạo cán bộ đủ trình độ theo yêu cầu của dự án;
- Về cán bộ cấp huyện và cấp xã đảm bảo đủ trình độ chuyên môn cho cán bộ nhất là cán bộ địa chính xã, đủ khả năng tiếp nhận và sử dụng trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại, đảm bảo cung cấp thông tin cho người có nhu cầu sử dụng một cách công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện dự án và tiếp tục duy trì, phát triển hệ thống sau này;
- Cần có sự phối hợp chặt chẽ của Ban chỉ đạo, Ban quản lý dự án, các sở, ngành tỉnh và địa phương trong quá trình thực hiện./.

Huỳnh Công Phúc



07/11/2008 12:00 SAĐã ban hành
Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 14/02 đến ngày 21/2/2017)Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 14/02 đến ngày 21/2/2017)
Bản tin dự báo độ mặn từ ngày 14 tháng 02 đến ngày 21 tháng 02 năm 2017 (Tuần 07/2017)

I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 07 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 14/02/2017 (TUẦN 06/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế xâm nhập sâu dần từ ngày 07 đến ngày 14.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 12 đến ngày 14 và ở mức sâu hơn so với tuần trước và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 21.6 ‰ ngày 11.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 6.2 ‰  ngày 14.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 1.8 ‰  ngày 11.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 0.2 ‰ ngày12-14.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): 0.1 ‰. (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): 25.0 ‰ ngày 12.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): 9.5 ‰ ngày 11.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 5.9 ‰ ngày 13.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): 1.9 ‰ ngày 13,14.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): 0.4 ‰  ngày 14.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): 20.1 ‰ ngày 10.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mõ Cày Nam): 2.9 ‰  ngày 12.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): 0.2 ‰ ngày 12.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mõ Cày Bắc): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

- Sông Hàm Luông: xã Thạnh Phú Đông (huyện Giồng Trôm) – xã Bình Khánh Đông (huyện mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 32 - 34km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thới Thạnh (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 26-28km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã  Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 44-46km).

- Sông Hàm Luông: xã Mỹ Thạnh An (Tp. Bến Tre), (cách cửa sông khoảng 44-46km).

- Sông Cổ Chiên: xã Cẩm Sơn – Thành Thới A (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 36 - 38km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 14 ĐẾN NGÀY 21/02/2017 (TUẦN 07/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế xâm nhập sâu dần từ ngày 14 đến ngày 19, sau đó ít biến đổi.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 17-19 và ở mức sâu hơn so với tuần qua và tương đương so với cùng thời kỳ năm 2016.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  25.0 ‰ đến 28.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  12.0 ‰ đến 15.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  6.0 ‰ đến 8.0 ‰.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax từ  2.0 ‰ đến 4.0 ‰.

+ Tại Long Hoà (xã Long Hoà – huyện Bình Đại): 3.0 ‰  đến 5.0 ‰ (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): Smax từ 27.0 ‰ đến 30.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ 13.0 ‰ đến 16.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): Smax từ 11.0 ‰ đến 14.0 ‰ (trong kênh).

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): Smax từ 8.0 ‰ đến 11.0 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): Smax từ 5.0 ‰ đến 7.0 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp – huyện Châu Thành): Smax từ 2.5 ‰ đến 4.5 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn – huyện Chợ Lách): Smax từ 0.5 ‰ đến 2.5 ‰.

+ Tại Hòa Nghĩa (xã Hòa Nghĩa - huyện Chợ Lách): 0.2 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): Smax từ  26.0 ‰ đến 29.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 12.0 ‰ đến 15.0‰.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 9.0 ‰ đến 11.0 ‰.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân): Smax từ 3.0 ‰ đến 5.0 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 44-46km).

- Sông Hàm Luông: xã Sơn Hòa (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 52-54km).

- Sông Cổ Chiên: xã Nhuận Phú Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 54 - 56km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã An Khánh – Phú Túc (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 56-58km).

- Sông Hàm Luông: xã Phú Sơn (huyện Chợ Lách), (cách cửa sông khoảng 64-66km).

- Sông Cổ Chiên: xã Tân Thiềng (huyện Chợ Lách), (cách cửa sông khoảng 64 - 66km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này:

Sông Cửa Đại: cấp độ 1.

Sông Hàm Luông:cấp độ 2.

Sông Cổ Chiên: cấp độ 2.

Ban tin man 14-2-2017.png

Ban tin man 14-2-2017.png

16/02/2017 2:45 CHĐã ban hành
Quyết định về việc Quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến TreQuyết định về việc Quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Ngày 07 tháng 11 năm 2017, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 59/2017/QĐ-UBND về việc Quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre

​Tải nội dung Quyết định: 59_2017_QD_UBND.pdf

13/11/2017 10:00 SAĐã ban hành
Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về giải pháp phát triển thị trường bất động sảnChỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về giải pháp phát triển thị trường bất động sản
Ngày 08/01/2008 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số: 01/2008/CT-TTg về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển và quản lý thị trường bất động sản.



Thị trường bất động sản nước ta tuy mới hình thành, nhưng đã có bước phát triển tích cực, nhiều dự án nhà ở, công trình dịch vụ, thương mại, sản xuất kinh doanh đã được đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác, sử dụng đạt hiệu quả cao, nhiều khu nhà ở, khu đô thị mới với hệ thống hạ tầng đồng bộ đã được đầu tư làm thay đổi bộ mặt, cảnh quan đô thị. Thị trường bất động sản đã thu hút được đáng kể nguồn vốn trong nước và nước ngoài, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội trong những năm vừa qua. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trường bất động sản đã từng bước được hoàn thiện, môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng thuận lợi hơn cho cả các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Bên cạnh những mặt tích cực, hoạt động của thị trường bất động sản thời gian qua cũng đã bộc lộ những mặt yếu kém, phát triển thiếu ổn định và bền vững. Đặc biệt, trong thời gian gần đây tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đã xảy ra tình trạng giá văn phòng cho thuê, căn hộ cao cấp, giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất để xây dựng nhà ở riêng lẻ tăng đột biến cục bộ ở một số dự án, một số khu vực nhất định. Trong khi thị trường bất động sản tại một số địa phương khác vẫn trong tình trạng kém sôi động, ít giao dịch. Nguyên nhân cơ bản của tình hình nêu trên là do nguồn cung về nhà đất tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh gần đây bị hạn chế, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn, giá đầu vào (vật liệu, nhân công... ) tăng cao cũng như sự tác động của thị trường tài chính, tiền tệ đã ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tăng giá bất động sản. Tại những khu vực giá bất động sản tăng đột biến đã xảy ra tình trạng nhà đầu tư giữ hàng không đưa ra thị trường nhằm đẩy giá lên cao; chính quyền các cấp thiếu sự kiểm tra, kiểm soát và xử lý kịp thời các trường hợp đầu cơ, nâng giá xảy ra trên địa bàn. Ngoài ra còn có nguyên nhân quan trọng là nhiều địa phương chưa quan tâm tới việc đầu tư xây dựng quỹ nhà xã hội để cho một số đối tượng thu nhập thấp thuê hoặc thuê mua theo quy định của Luật Nhà ở. Tình trạng đầu cơ, đẩy giá giao dịch bất động sản lên quá cao so với giá trị thực gây ảnh hưởng không tốt đến hoạt động đầu tư, giảm nguồn thu cho ngân sách, gây tác động xấu tới tâm lý và đời sống xã hội.

Để khắc phục những bất cập nêu trên, góp phần phát triển thị trường bất động sản hoạt động lành mạnh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị cho các Bộ, ngành và địa phương thực hiện một số giải pháp đẩy mạnh phát triển và quản lý thị trường bất động sản. Trong đó, Thủ tướng giao cho Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi hoàn chỉnh các quy định, cơ chế, chính sách liên quan đến thị trường bất động sản.

Đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị:

- Kiểm tra, rà soát lại danh mục và tiến độ thực hiện đối với tất cả các dự án nhà ở, dự án khu đô thị mới trên phạm vi địa bàn; thực hiện việc thu hồi đất đối với các chủ đầu tư dự án đã giao đất hoặc cho thuê đất nhưng chưa triển khai hoặc triển khai chậm tiến độ theo quy định của pháp luật về đất đai;

- Có biện pháp xử lý kiên quyết đối với các trường hợp đầu cơ nhà đất, mua bán, chuyển nhượng bất động sản trái quy định của pháp luật, trốn lậu thuế cũng như các trường hợp khác vi phạm quy định pháp luật về đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản trên phạm vi địa bàn;

- Báo cáo tình hình phát triển và quản lý thị trường bất động sản tại địa phương.

Vĩnh Thịnh



24/01/2008 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre thực hiện quy định về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biểnBến Tre thực hiện quy định về thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển
Ngày 20/02/2017, UBND tỉnh ban hành Công văn số 585/UBND-KT chỉ đạo các sở, ban ngành và các huyện ven biển về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

​       Ngày 20/02/2017, UBND tỉnh ban hành Công văn số 585/UBND-KT chỉ đạo các sở, ban ngành và các huyện ven biển về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

         Theo quy định tại khoản 1, Điều 79 của Luật tài nguyên và môi trường biển và hải đảo "Kể từ thời điểm Luật này được công bố (tức là ngày 08/7/2015), giữ nguyên hiện trạng", không được phép đầu tư, xây dựng mới công trình trong phạm vi 100m tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển xác định theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường (tại Công văn số 3628/BTNMT-TCBHĐVN ngày 01/9/2015 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo) cho đến khi hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập theo quy định của Luật này, trừ các trường hợp sau: (01) Xây dựng mới công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phòng, chống thiên tai, sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; (02) Xây dựng mới công trình theo dự án đầu tư phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển quyết định chủ trương đầu tư; (03) Xây dựng công trình theo dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc xây dựng công trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng trước thời điểm Luật này được công bố.

      Thực hiện Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, để tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và đảm bảo khai thác hiệu quả, bền vững quỹ đất ven biển, ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, UBND tỉnh đã có ý kiến chỉ đạo tại Công văn số 585/UBND-KT ngày 20/02/2017 về việc thực hiện quy định tại Điều 79 của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. UBND tỉnh Bến Tre yêu cầu các Sở, ban, ngành có liên quan và UBND 3 huyện ven biển thực hiện một số nội dung trọng tâm sau:

       Một là, tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 27/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và quản lý đất đai các dự án ven biển.

       Hai là, có trách nhiệm rà soát, báo cáo việc quản lý, sử dụng hành lang bờ biển; số lượng cụ thể các công trình, dự án của các tổ chức doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng và đánh giá sơ bộ mức độ ảnh hưởng của các dự án này khi áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 79 của Luật tài nguyên và môi trường biển và hải đảo, phân loại theo nhóm gồm: các dự án đã được giao đất, cho thuê đất; các dự án đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500, nhưng chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất; các dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư , nhưng chưa phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500; đề xuất UBND tỉnh chủ trương xử lý chung.

        Ba là, kiểm tra, đánh giá sự phù hợp của các dự án đầu tư tại khu vực ven biển với quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt; rà soát tổng thể các dự án để điều chỉnh quy hoạch xây dựng gắn với quy hoạch sử dụng đất đảm bảo lợi ích cộng đồng dân cư và doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn; khai thác sử dụng không gian ven biển hiệu quả, thích ứng với biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh quốc phòng, đảm bảo quỹ đất bố trí hạ tầng kỹ thuật, khu du lịch, công viên, khu vực bảo tồn, phòng hộ…         

          Đồng thời giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan và UBND 3 huyện ven biển xây dựng Đề án "Thiết lập và quản lý hành lang bảo vệ bờ biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre" đúng theo thời gian Luật định./.

Vĩnh Thịnh

24/02/2017 7:30 SAĐã ban hành
Ngày 01/7/2011, Luật Khoáng sản năm 2010 có hiệu lực thi hànhNgày 01/7/2011, Luật Khoáng sản năm 2010 có hiệu lực thi hành
Ngày 17/11/2010, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá 12 đã chính thức thông qua Luật Khoáng sản năm 2010. Luật này gồm 11 Chương, 86 Điều có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2011 và thay thế Luật Khoáng sản năm 1996, Luật Khoáng sản sửa đổi, bổ sung năm 2005.



So với Luật khoáng sản năm 1996, Luật Khoáng sản sửa đổi bổ sung năm 2005 thì Luật Khoáng sản năm 2010 có một số điểm đáng lưu ý như:
- Thứ nhất, trách nhiệm quản lý nhà nước giữa các cấp, các ngành được quy định cụ thể hơn. Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về khoáng sản trên phạm vi cả nước; Còn đối với các bộ, ngành có liên quan thì luật không quy định mà giao cho Chính phủ phân công, giao nhiệm vụ nhằm đảm bảo sự thống nhất trong công tác quản lý nhà nước về khoáng sản giữa các bộ, ngành ở Trung ương. Đối với Uỷ ban nhân dân các cấp thì trách nhiệm quản lý nhà nước về khoáng sản tại cấp cơ sở được tăng cường. Cụ thể, Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác, bảo vệ an ninh, trật tự tại khu vực có khoáng sản; Báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp huyện về hoạt dộng khoáng sản tại địa phương; Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khoáng sản; Kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về khoáng sản theo thẩm quyền,...
- Thứ hai, Luật Khoáng sản năm 2010 dành một Chương riêng để quy định về bảo vệ khoáng sản chưa khai thác. Đối với Uỷ ban nhân dân các cấp, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm huy động và phối hợp với các lực lượng trên địa bàn để giải toả, ngăn chặn tình trạng khai thác khoáng sản trái phép; Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hoạt động khai thác khoáng sản trái phép, phối hợp với các cơ quan chức năng bảo vệ khoáng sản chưa khai thác. Đối với lực lượng công an, quân đội thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực khoáng sản; bảo vệ khoáng sản chưa khai thác tại khu vực biên giới, hải đảo,…Bên cạnh đó, luật cũng quy định nguồn kinh phí đảm bảo cho công tác bảo vệ khoáng sản chưa khai thác được bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm.
- Thứ ba, xoá bỏ cơ chế “xin - cho” khi cấp quyền khai thác khoáng sản. Nghĩa là để được khai thác khoáng sản thì tổ chức, cá nhân phải nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản thông qua đấu giá quyền khai thác khoáng sản nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch, tăng thu cho ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, các tổ chức, cá nhân được khai thác khoáng sản còn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế, phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.
- Thứ tư, quy định rõ hơn về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản đối với địa phương nơi có khoáng sản được khai thác như: Hỗ trợ chi phí đầu tư, nâng cấp, duy tu, xây dựng hạ tầng kỹ thuật, công trình phúc lợi; Sử dụng lao động địa phương vào khai thác khoáng sản và các dịch vụ có liên quan; Nếu gây thiệt hại đến hạ tầng kỹ thuật, công trình, tài sản thì tuỳ mức độ phải có trách nhiệm sữa chữa, duy tu, xây mới hoặc bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, Luật khoáng sản năm 2010 còn điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung thêm các quy định về hoạt động khoáng sản, giấy phép hoạt động khoáng sản, phân cấp thẩm quyền cấp phép, quy định về khu vực khoáng sản và chiến lược quy hoạch khoáng sản.
Tải nội dung Luật Khoáng sản 2010 tại đây


17/05/2011 12:00 SAĐã ban hành
Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 09/5 đến ngày 16/5/2017)Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 09/5 đến ngày 16/5/2017)
Bản tin dự báo độ mặn từ ngày 09 tháng 5 đến ngày 16 tháng 5 năm 2017 (Tuần 19/2017)

I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 02 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 09/05/2017 (TUẦN 18/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế giảm nhẹ ít biến đổi từ ngày 02 đến ngày 05, sau đó tăng dần.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 08, 09 ở mức thấp, ít sâu hơn so với tuần trước và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 17.8 ‰  ngày 05.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 8.7 ‰  ngày 05.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 3.0 ‰  ngày 06.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): 0.3 ‰ ngày 02.

+ Tại Long Hòa (xã Long Hòa - huyện Bình Đại): 0.5 ‰ ngày 02. (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm - huyện Ba Tri): 18.4 ‰  ngày 06.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): 8.9 ‰  ngày 06.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh - huyện Thạnh Phú): 4.5 ‰ ngày 06.

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông - huyện Mỏ Cày Nam): 3.0 ‰ ngày 07.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình - huyện Mỏ Cày Bắc): 1.2 ‰ ngày 02.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 - Tp. Bến Tre): 0.6 ‰  ngày 02.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân - huyện Mỏ Cày Bắc): 0.2 ‰  ngày 02-03..

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): 0.1 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn - huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận - huyện Thạnh Phú): 24.0 ‰  ngày 06.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mỏ Cày Nam): 4.4 ‰  ngày 05, 06.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn - huyện Mỏ Cày Nam): 2.2 ‰ ngày 08.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B - huyện Mỏ Cày Nam): 0.3 ‰ ngày 03, 07-09.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân - huyện Mỏ Cày Bắc): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Long Định (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 36-38km).

- Sông Hàm Luông: xã Thạnh Phú Đông (huyện Giồng Trôm) – Bình Khánh Đông (huyện Mỏ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

- Sông Cổ Chiên: xã Hương Mỹ - Cẩm Sơn (huyện Mỏ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 30-32km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 44-46km).

- Sông Hàm Luông: xã Sơn Phú (huyện Giồng Trôm) - Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 42-44km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới B (huyện Mỏ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 42-44km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 09 ĐẾN NGÀY 16/05/2017 (TUẦN 19/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế tăng, xâm nhập sâu dần từ ngày 09 đến ngày 11, sau đó giảm dần.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 11, 12/05, ở mức sâu hơn so với tuần qua và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  19.0 ‰ đến 22.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  10.0 ‰ đến 13.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  4.0 ‰ đến 6.0 ‰.

+ Tại Quới Sơn (Ấp 2, xã Quới Sơn - huyện Châu Thành): Smax từ  0.2 ‰ đến 1.5 ‰.

+ Tại Long Hoà (xã Long Hoà - huyện Bình Đại): 0.2 ‰  đến 2.0 ‰ (sông Ba Lai).

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm - huyện Ba Tri): Smax từ 20.0 ‰ đến 23.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ  9.0 ‰ đến 12.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh - huyện Thạnh Phú): Smax từ 5.0 ‰ đến 8.0 ‰ (trong kênh).

+ Tại Vàm Cái Quao (xã Bình Khánh Đông - huyện Mỏ Cày Nam): Smax từ 4.0 ‰ đến 7.0 ‰.

+ Tại Vàm Nước Trong (xã Tân Thành Bình - huyện Mỏ Cày Bắc): Smax từ 1.0 ‰ đến 3.0 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 - Tp. Bến Tre): Smax từ 0.2 ‰ đến 1.5 ‰.

+ Tại Thanh Tân (xã Thanh Tân - huyện Mỏ Cày Bắc): Smax từ 0.2 ‰ đến 1.0 ‰.

+ Tại An Hiệp (xã An Hiệp - huyện Châu Thành): Smax 0.2 ‰ đến 0.5 ‰.

+ Tại Vàm Mơn (xã Phú Sơn - huyện Chợ Lách): 0.1 ‰..

+ Tại Hòa Nghĩa (xã Hòa Nghĩa - huyện Chợ Lách): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận - huyện Thạnh Phú): Smax từ  22.0 ‰ đến 25.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mỏ Cày Nam): Smax từ 6.0 ‰ đến 9.0‰.

+ Tại Cẩm Sơn (xã Cẩm Sơn - huyện Mỏ Cày Nam): Smax từ  3.0 ‰ đến 6.0 ‰.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B - huyện Mỏ Cày Nam): Smax từ 0.2 ‰ đến 1.5 ‰.

+ Tại Nhuận Phú Tân (xã Nhuận Phú Tân): Smax 0.2 ‰ đến 0.5 ‰ .

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giao Hòa (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

- Sông Hàm Luông: xã Phước Long (huyện Giồng Trôm) – Phước Hiệp, Định Thủy (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 38-40km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới A (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 38-40km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Quới Sơn (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 46-48km).

- Sông Hàm Luông: xã Phường 07 - Bình Phú (Tp. Bến Tre), (cách cửa sông khoảng 48-50km).

- Sông Cổ Chiên: xã Khánh Thạnh Tân - Nhuận Phú Tân (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 48-50km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này:

Sông Cửa Đại: cấp độ 1.

Sông Hàm Luông:cấp độ 1.

Sông Cổ Chiên: cấp độ 1.

tuan19.png

Ban_tin_man_09_5 (Tuan_19_2017).png

12/05/2017 2:00 CHĐã ban hành
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TRUY CẬP “BẢN ĐỒ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT”HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TRUY CẬP “BẢN ĐỒ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT”
Chuyên mục Bản đồ quy hoạch sử dụng đất của trang tin điện tử Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre phục vụ cho các tổ chức và người dân cần xem thông tin quy hoạch về thửa đất của đang sử dụng.



Sau đây là phần hướng dẫn sử dụng việc truy cập website Sở Tài nguyên và Môi Trường Bến Tre tại địa chỉ sotnmt-bentre.gov.vn để xem thông tin quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bến Tre:
Cách I

- Truy cập vào website http://sotnmt-bentre.gov.vn.
- Tại trang chủ, ở phần menu chính nằm ở bên trái của giao diện bạn click chọn mục “Bản đồ quy hoạch”
* Tại trang thông tin quy hoạch tỉnh Bến Tre ở phần TRA CỨU THÔNG TIN QUY HOẠCH bạn cần phải nhập đầy đủ các thông tin như theo yêu cầu gồm: Quận huyện, Phường xã, Số tờ bản đồ, Số thửa, Chủ sử dụng. Sau đó click vào mục Tìm kiếm.
Cách II

- Truy cập vào website http://sotnmt-bentre.gov.vn.
- Tại trang chủ, ở phần TIN CHUYÊN MỤC bên phải của giao diện bạn click chọn mục “Thông tin quy hoạch” (Lưu ý: tại mục này chúng tôi có đưa ra thông báo cụ thể về việc cập nhật thông tin quy hoạch sử dụng đất trên website, đề nghị người truy cập xem thật kỹ để nắm thông tin)
- Tiếp theo bạn click chọn “THÔNG TIN QUY HOẠCH THỬ ĐẤT”
- Công việc cuối cùng là bạn làm theo hướng dẫn ở phần * của cách I.

Lưu ý: Tốt nhất các bạn nên sử dụng trình duyệt Internet Explorer 7.0 hoặc Firefox 3.0 trở lên. Rất mong sự đóng góp ý kiến để chuyên mục ngày càng hoàn thiện hơn.
BBT Website Sở TNMT



29/03/2010 12:00 SAĐã ban hành
Thông tin quy hoạch các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Bến Tre Thông tin quy hoạch các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Bến Tre
Hiện tại người truy cập có thể xem thông tin quy hoạch các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Bến Tre như sau:
- Thành phố Bến Tre: P1, P2, P3, P4, P5, P6, P7, P8, một phần xã: Bình Phú, xã Sơn Đông, xã Mỹ Thạnh An.
- Huyện Thạnh Phú: Thị trấn Thạnh Phú, xã Phú Khánh, xã Đại Điền, xã Quới Điền, xã Tân Phong, xã Thới Thạnh.
Chúng tôi sẽ cố gắng cập nhật thông tin các huyện còn lại thuộc tỉnh Bến Tre trong thời gian sớm nhất.
Nếu người truy cập phát hiện sai sót xin góp ý về Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Bến Tre. ĐT: 075.3821104 hoặc Email: vpdkbentre@yahoo.com.vn.
Người truy cập thông tin quy hoạch của các phường Phú Khương, Phú Tân, xã Phú Hưng theo bảng hướng dẫn sau:

* Các tờ bản đồ địa chính số: 1,2,3,4 và 11 của xã Phú hưng chuyển một phần sang Phường Phú Tân thì thực hiện đổi thành tờ bản đồ số: 31,33,34,16 và 35.
09/10/2008 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nh​iệm chính: Ông Nguyễn Văn Chinh - Chức vụ: Giám đốc Sở TN và MT | Giấy phép số: 139/GP - BC, ngày 16 tháng 4 năm 2007
Địa chỉ trụ sở: Số 01 - Trần Quốc Tuấn - Phường 2 - Thành phố Bến Tre - Tỉnh Bến Tre
Điện thoại: 075.3822210 - 075.211494 - Fax: 075.813176