Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức sự kiện

 
Tin tức sự kiện - Tin Thanh tra
Quyết định số 3549/QĐ-BTNMT ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2019. 
 
 
Ngày 23 tháng 11 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quyết định số 2965/QĐ-BTNMT Phê duyệt Kế hoạch thanh tra năm 2018 
 
Để chấn chỉnh, đưa hoạt động khai thác, kinh doanh, vận chuyển cát lòng sông đi vào nề nếp theo tinh thần Chỉ thị số 29/CT-TTg ngày 02/10/2008, Chỉ thị số 447/CT-TTg ngày 25/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 19/10/2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh. Đồng thời, tuyên truyền, giáo dục cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác, vận chuyển, kinh doanh cát lòng sông chấp hành tốt các quy định của pháp luật về khoáng sản, bảo vệ môi trường, đê điều và an toàn giao thông đường thuỷ. Ngày 03/6/2011, Giám đốc Công an tỉnh có Kế hoạch số: 108/KH - CAT giao cho phòng Cảnh sát đường thủy xây dựng kế hoạch, phối hợp với Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động khai thác, kinh doanh, vận chuyển cát lòng sông trên địa bàn tỉnh. 
Nhằm bảo vệ môi trường du lịch, ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường trong quá trình tiến hành các hoạt động du lịch, bảo đảm phát triển du lịch một cách bền vững, góp phần bảo vệ môi trường của tỉnh. 
 
Trong những năm gần đây, trên tuyến sông Cổ Chiên đoạn khu vực cồn Phú Đa, cồn Phú Bình thuộc địa phận xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách đang trở thành điểm nóng về tình trạng khai thác cát trái phép. Do khu vực này là địa bàn giáp ranh giữa Bến Tre và Vĩnh Long, ít dân cư sinh sống nên các đối tượng bơm hút cát trái phép tập trung khai thác nhiều. Các đối tượng này sử dụng phương tiện có trang bị động cơ, máy bơm hút có công suất lớn để bơm hút nhanh và dễ dàng chạy thoát khi phát hiện có lực lượng kiểm tra. Thời gian hoạt động cao điểm là vào ban đêm, lúc con nước đang lớn. 
 
Qua thanh tra, kiểm tra, Sở Tài nguyên và Môi trường phát hiện nhiều Dự án không thực hiện đúng các qui định sau khi Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được phê duyệt. Theo qui định tại Điều 14, Nghị định 80/2006/NĐ-CP của Chính phủ, sau khi có quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM đến khi dự án đi vào vận hành chính thức thì chủ dự án phải thực hiện các nội dung sau: 
 
Sáng 17/11, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng chủ trì cuộc họp với lãnh đạo Thanh tra Chính phủ, Bộ Tư pháp và Bộ Công an về những biện pháp giải quyết các vụ việc khiếu kiện kéo dài. 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Bản đồ ngập nguy cơ ngập của tỉnh Bến Tre theo kịch bản 2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trườngBản đồ ngập nguy cơ ngập của tỉnh Bến Tre theo kịch bản 2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Bản đồ ngập nguy cơ ngập của tỉnh Bến Tre theo kịch bản 2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
29/03/2017 1:40 CHĐã ban hành
Công văn 1471/STNMT-QLTN&KTTV về việc Thực hiện các quy định trong việc tư vấn lập Hồ sơ cấp giấy phép tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bến TreCông văn 1471/STNMT-QLTN&KTTV về việc Thực hiện các quy định trong việc tư vấn lập Hồ sơ cấp giấy phép tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Công văn 1471/STNMT-QLTN&KTTV về việc Thực hiện các quy định trong việc tư vấn lập Hồ sơ cấp giấy phép tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre

​    

Tải văn bản: 1471_2018_STNMT-QLTN-KTTV.7z

12/06/2018 11:00 SAĐã ban hành
Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 06/6 đến ngày 13/6/2017)Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Từ ngày 06/6 đến ngày 13/6/2017)
Bản tin dự báo độ mặn từ ngày 06 tháng 6 đến ngày 13 tháng 6 năm 2017 (Tuần 23/2017)

I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 30/05 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 06/06/2017 (TUẦN 22/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế giảm dần từ ngày 30/05 đến 02/06, sau đó ít biến đổi rồi tăng dần từ ngày 04 đến 06/06.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 30-31/05 và 05-06/06  ở mức thấp hơn so với tuần trước và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 17.1 ‰  ngày 04.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 5.2 ‰  ngày 30.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 0.2 ‰  ngày 30-05.

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): 15.0 ‰  ngày 04.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): 0.4 ‰  ngày 05, 06.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 0.4 ‰ ngày 04, 05.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): 0.2 ‰ ngày 30, 31.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): 13.0 ‰  ngày 30.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mõ Cày Nam): 0.4 ‰  ngày 30.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Vang – Vang Quới Đông (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 24-26km).

- Sông Hàm Luông: xã An Hiệp (huyện Ba Tri) – Mỹ An (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 16-18km).

- Sông Cổ Chiên: xã Hòa Lợi (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 18-20km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận – Long Định (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 34-36km).

- Sông Hàm Luông: xã Hưng Lễ (huyện Giồng Trôm) – Phú Khánh (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 24-26km).

- Sông Cổ Chiên: xã Hương Mỹ (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 28-30km).

II/ DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 06 ĐẾN NGÀY 13/06/2017 (TUẦN 23/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế tăng dần từ ngày 06 đến ngày 10, sau đó ít biến đổi.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 09 đến 13 ở mức sâu hơn so với tuần qua và xấp xỉ thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): Smax từ  17.0 ‰ đến 20.0 ‰.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): Smax từ  5.0 ‰ đến 8.0 ‰.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): Smax từ  0.2 ‰ đến 2.0 ‰.

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): Smax từ 17.0  ‰ đến 20.0 ‰.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ - huyện Giồng Trôm): Smax từ  4.0 ‰ đến 7.0 ‰.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): Smax từ 2.0 ‰ đến 5.0 ‰ (trong kênh).

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): Smax từ 0.2 ‰ đến 2.0 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): Smax 0.2 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): Smax từ  15.0 ‰ đến 18.0 ‰.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ - huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 2.0 ‰ đến 5.0‰.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): Smax từ 0.2 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Vang Quới Tây (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 30-32km).

- Sông Hàm Luông: xã Thạnh Phú Đông (huyện Giồng Trôm) – Minh Đức (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 28-30km).

- Sông Cổ Chiên: xã Hương Mỹ (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 28-30km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính có khả năng xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Giao Hòa (huyện Châu Thành), (cách cửa sông khoảng 40-42km).

- Sông Hàm Luông: xã Phước Long (huyện Giồng Trôm) – Định Thủy (huyện Mõ Cày Bắc), (cách cửa sông khoảng 38-40km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thành Thới A (huyện Mõ Cày Nam), (cách cửa sông khoảng 38-40km).

* Cấp độ rủi ro thiên tai do xâm nhập mặn trong tuần này:

Sông Cửa Đại: Thấp hơn cấp độ 1.

Sông Hàm Luông: Thấp hơn cấp độ 1.

Sông Cổ Chiên: Thấp hơn cấp độ 1.

tuan23.png

Ban_tin_man_06_6 (Tuan_23_2017).png

09/06/2017 5:00 CHĐã ban hành
Hiện trạng rừng và đất rừng của tỉnh Bến TreHiện trạng rừng và đất rừng của tỉnh Bến Tre
Để bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, chúng ta cần áp dụng các chính sách sau: trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc; bảo vệ rừng phòng hộ, các vườn quốc gia và khu dự trữ thiên nhiên; khai thác hợp lý rừng sản xuất, hạn chế khai hoang chuyển rừng thành đất nông nghiệp, hạn chế di dân tự do và đóng cửa rừng tự nhiên.



Bến Tre có diện tích rừng không nhiều, nhưng nó có vai trò rất quan trọng trong việc phòng hộ bảo vệ môi trường, phòng chống xói lở, cố định bãi bồi, đặc biệt là giữ vững sự cân bằng sinh thái vùng cửa sông ven biển.
Do đặc điểm điều kiện tự nhiên ở Bến Tre là vùng có khí hậu nhiệt đới và tiếp giáp với biển nên thuận lợi phát triển cả 3 loại rừng: rừng ngập mặn, rừng nước lợ và rừng tự nhiên.
Khu vực cửa sông Tiền Giang: là nơi thuận lợi cho việc phát triển của quần xã cây nước lợ như quần xã bần chua, dừa nước, quần xã ô rô.
Khu vực cửa sông Ba Lai: đây là nơi có độ mặn của đất và nước cao nhất trong tất cả các nhánh sông Cửu Long khác. Điều này đã ảnh hưởng rõ rệt đến phân bố và thành phần các loài cây ngập mặn bao gồm: quần xã bần trắng, quần xã mắm trắng, quần xã cốc vàng, xu ổi trên đất, quần xã giá, tra.
Khu vực cửa sông Hàm Luông: nồng độ muối ở đây thấp hơn các nhánh sông khác. Rừng ngập mặn gồm các cây nước lợ điển hình, các quần xã thực vật chủ yếu ở vùng này là: quần xã bần chua, quần xã bần chu, ô rô gai, quần xã cóc kèn, cỏ mui.
Diện tích rừng tập trung hiện nay của tỉnh là 3.750 ha, gồm một số loài cây chủ yếu như Đước: 1.768 ha, Bần: 523 ha, Mắm: 911 ha…, với tổng trữ lượng ước đạt 286.942 m3. Theo quy hoạch tổng diện tích quy hoạch lâm nghiệp là 7.833 ha, trong đó: rừng phòng hộ: 3.803 ha, rừng đặc dụng: 2.584 ha và rừng sản xuất: 1.446 ha. Mục tiêu từ năm 2008 đến năm 2020, mỗi năm trồng mới khoảng 100 ha rừng tập trung và 01 triệu cây phân tán; nâng độ che của rừng trong vùng quy hoạch lâm nghiệp từ 48% vào năm 2008 lên 49,8% vào năm 2010, 56% vào năm 2015 và 62,5% vào năm 2020.
Nhận thấy, rừng có giá trị to lớn nên hệ sinh thái này luôn được các cấp lãnh đạo từ trung ương đến địa phương quan tâm bảo vệ và đầu tư phát triển. Thế nhưng trong những năm gần đây, mặc dù đã được quản lý và bảo vệ, nhưng những cánh rừng ở Bến Tre đã không ít lần bị phá hoại bởi tình trạng bị những người thiếu ý thức xâm hại đào bới bắt những loài động vật như con chặt khoai, chem chép; đốn phá, lấn chiếm đất rừng nuôi thủy sản.
Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề là lực lượng quản lý bảo vệ rừng mỏng, cán bộ lâm nghiệp cấp huyện và xã còn thiếu so với yêu cầu, biện pháp xử phạt chưa nặng, chủ yếu là kiểm tra, phát hiện rồi giáo dục người dân không được xâm hại đến tài nguyên rừng; nên gây khó khăn cho công tác quản lý bảo vệ rừng.
Để phát triển lâm nghiệp và kinh tế xã hội các huyện ven biển, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đang phối hợp với các ngành có liên quan xây dựng Đề án giao đất giao rừng lâu dài cho các tổ chức và cá nhân sử dụng. Hiện nay, rừng và đất rừng đã được giao khoán (từ 1 – 5 năm) cho các tập thể, cá nhân và hộ gia đình quản lý bảo vệ (đã giao cho 833 tổ chức, cá nhân và hộ gia đình). Vì vậy trên mỗi mảnh đất đều có chủ thật sự, góp phần hạn chế nạn phá rừng.
Mai Hanh



18/11/2009 12:00 SAĐã ban hành
BẾN TRE BAN HÀNH BẢNG GIÁ ĐẤT 2009BẾN TRE BAN HÀNH BẢNG GIÁ ĐẤT 2009
Ngày 23   tháng 12  năm 2008, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban Quyết định số 27/2008/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về giá các loại đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2009.



Quy định này được sử dụng làm căn cứ để: tính thuế đối với việc sử dụng đất và chuyển quyền sử dụng đất; tính tiền sử dụng đất và tiền cho thuê đất khi giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất; tính giá trị quyền sử dụng đất khi giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân; xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị tài sản của doanh nghiệp Nhà nước khi cổ phần hoá; tính giá trị quyền sử dụng đất đất để thu lệ phí trước bạ, tính giá trị quyền sử dụng đất để bồi thường, giải toả, thu hồi đất cho các mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế, …
Theo bảng giá mới này thì giá đất thổ cư cao nhất tại khu vực trung tâm thị xã Bến Tre là 23 triệu đồng/m2 (đường Nguyễn Đình Chiểu, đoạn từ vòng xoay trung tâm thị xã đến ngã tư Phan Ngọc Tòng; và đại lộ Đồng Khởi, đoạn từ cầu Bến Tre 1 đến vòng xoay trung tâm). Tiếp đến, các đoạn đường ở khu chợ và các đại lộ, trục đường chính trong nội ô thị xã đều có giá từ 17 triệu, 18 triệu đến 20 triệu đồng/m2.
Nhìn chung, giá đất năm 2009 ít thay đổi so với năm 2008. Năm nay, giá đất nông nghiệp và được phân theo 5 vị trí, trong đó có vị trí đất không có lối đi dẫn vào đây là vị trí mới so với bảng giá đất cũ và cách tính vị trí cũng khác so với bảng giá đất cũ, đất trồng cây hàng năm cao nhất là 160.000 đ/m2 (vị trí 1). Đất trồng cây lâu năm vị trí 1 là 189.000 đ/m2. Đất nuôi trồng thuỷ sản vị trí 1 là 12.000 đ/m2. Đất làm muối vị trí 1 là 15.000 đ/m2, Đất lâm nghiệp vị trí 1: Giá cao nhất là 10.000 đ/m2.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 và thay thế cho Quyết định số 09/2008/QĐ-UBND ngày 28 tháng 4 năm 2008 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc Ban hành Bảng giá các loại đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2008 và Quyết định số 15/2008/QĐ-UBND ngày 03 tháng 7 năm 2008 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 09/2008/QĐ-UBND ngày 28 tháng 4 năm 2008 của Uỷ ban nhân dân tỉnh./.

(Để xem bảng chi tiết giá đất vào mục Văn bản pháp quy -> Tài nguyên đất).
HÙNG CƯỜNG



07/01/2009 12:00 SAĐã ban hành
Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP và sửa đổi, bổ sung một số điều của 07 Thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đaiThông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP và sửa đổi, bổ sung một số điều của 07 Thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai
Ngày 29 tháng 9 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai

            Ngày 29 tháng 9 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai. Thông tư quy định chi tiết các nội dung cụ thể như sau:

              Thứ nhất, Thông tư quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai.

           Trong đó, hướng dẫn cụ thể việc xác nhận hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; việc sử dụng đất trong dự án sản xuất, kinh doanh theo phương thức thỏa thuận mua tài sản gắn liền với đất, nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn; việc thực hiện các dịch vụ của Văn phòng Đăng ký đất đai;…

            Thứ hai, Thông tư quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của 07 thông tư cụ thể sau:

           1) Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

            Trong đó, sửa đổi, bổ sung một số nội dung như: xây dựng quy định về yếu tố chống giả trên phôi Giấy chứng nhận; thể hiện thông tin trên Giấy chứng nhận đối với trường hợp chứng nhận quyền sở hữu công trình trên đất nông nghiệp; hướng dẫn cách ghi trên Giấy chứng nhận đối với trường hợp Văn phòng Đăng ký đất đai và Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai được ủy quyền ký cấp Giấy chứng nhận….

            2) Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 quy định về hồ sơ địa chính;

           Trong đó, sửa đổi, bổ sung một số nội dung như: quy định hướng dẫn về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích tăng thêm so với giấy tờ về quyền sử dụng đất; về đăng ký quyền sử dụng đất cho tổ chức mua bán nợ theo quy định tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội; về từ chối hồ sơ đề nghị đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;…

          3) Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 quy định về bản đồ địa chính;

          Trong đó hướng dẫn xử lý, giải quyết cụ thể đối các trường hợp đo đạc mà người sử dụng đất vắng mặt hoặc người sử dụng đất nhận Bản mô tả ranh giới, mốc giới mà không ký xác nhận…

          4) Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất;

           Trong đó, hướng dẫn hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ và đất rừng đặc dụng để thực hiện dự án đầu tư; Hồ sơ điều chỉnh quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đã ban hành trước ngày 01 tháng 7 năm 2004;…

        5) Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 quy định chi tiết phương pháp định giá đất, xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất, định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất;

      Trong đó, sửa đổi, bổ sung về phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất đã được quy định tại Điều 7 của Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT;…

     6) Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

       Trong đó, sửa đổi, bổ sung việc xác định diện tích đất nông nghiệp để tính hỗ trợ ổn định đời sống khi Nhà nước thu hồi đất; Giá đất làm căn cứ tính hỗ trợ cho người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước nằm trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ; Bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng;…

        7) Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27 tháng 01 năm 2015 quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ.

        Trong đó, sửa đổi, bổ sung các trường hợp chuyển mục đích không phải xin phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Việc sử dụng đất đối với trường hợp chuyển đổi công ty, chuyển doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn;…

        Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 12 năm 2017, bãi bỏ Điều 23 của Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT, Điều 12 và Điều 14 của Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT./.

Nguyễn Khắc Phương

TT_33_2017_TT-BTNMT_HD_(ND01).pdf

15/11/2017 9:00 SAĐã ban hành
Kết quả của đợt ra quân thứ nhất Đoàn liên ngành Cảnh sát đường thuỷ - Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường - Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thônKết quả của đợt ra quân thứ nhất Đoàn liên ngành Cảnh sát đường thuỷ - Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường - Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
<dd>Để chấn chỉnh, đưa hoạt động khai thác, kinh doanh, vận chuyển cát lòng sông đi vào nề nếp theo tinh thần Chỉ thị số 29/CT-TTg ngày 02/10/2008, Chỉ thị số 447/CT-TTg ngày 25/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 19/10/2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh. Đồng thời, tuyên truyền, giáo dục cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác, vận chuyển, kinh doanh cát lòng sông chấp hành tốt các quy định của pháp luật về khoáng sản, bảo vệ môi trường, đê điều và an toàn giao thông đường thuỷ. Ngày 03/6/2011, Giám đốc Công an tỉnh có Kế hoạch số: 108/KH - CAT giao cho phòng Cảnh sát đường thủy xây dựng kế hoạch, phối hợp với Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động khai thác, kinh doanh, vận chuyển cát lòng sông trên địa bàn tỉnh.



Đồng thời, tuyên truyền, giáo dục cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác, vận chuyển, kinh doanh cát lòng sông chấp hành tốt các quy định của pháp luật về khoáng sản, bảo vệ môi trường, đê điều và an toàn giao thông đường thuỷ. Ngày 03/6/2011, Giám đốc Công an tỉnh có Kế hoạch số: 108/KH - CAT giao cho phòng Cảnh sát đường thủy xây dựng kế hoạch, phối hợp với Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động khai thác, kinh doanh, vận chuyển cát lòng sông trên địa bàn tỉnh.


Một phương tiện đang bơm hút cát trái phép bị lực lượng kiểm tra phát hiện

Từ ngày 27 - 29/6/2011, Đoàn liên ngành Cảnh sát đường thuỷ - Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường - Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiến hành đợt kiểm tra thứ nhất trên tuyến sông Hàm Luông. Kết quả, Đoàn kiểm tra phát hiện, xử lý 10 trường hợp vi phạm trong hoạt động khai thác, vận chuyển cát lòng sông với số tiền là 29.700.000 đồng. Các lỗi vi phạm chủ yếu là khai thác cát trái phép, khai thác trong phạm vi hành lang bảo vệ luồng, người điều khiển phương tiện không bằng thuyền trưởng, không giấy chứng nhận đăng ký phương tiện,...


Các đối tượng bơm hút không chấp hành yều cầu điều phương tiện về địa điểm tạm giữ



Lực lượng kiểm tra điều phương tiện về địa điểm tạm giữ



Hai phương tiện bơm hút cát trái phép bị tạm giữ, chờ xử lý

Bên cạnh đó, Đoàn liên ngành tiến hành kiểm tra hoạt động khai thác, quản lý mỏ cát đối với Hợp tác xã Việt Hùng. Qua kiểm tra, Hợp tác xã Việt Hùng thực hiện tương đối đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật trong hoạt động khai thác khoáng sản. Đồng thời, Đoàn kiểm tra cũng đề nghị Hợp tác xã tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các phương tiện bơm hút vào Hợp tác xã nhằm giảm tình trạng khai thác cát trái phép; Tăng cường công tác quản lý đối với các phương tiện vào khai thác trong mỏ như khai thác đúng vị trí, không mang theo trẻ em khi vào mỏ lấy cát; quy định các phương tiện trước khi lấy cát phải mua phiếu để tránh thất thoát tài nguyên.


11/07/2011 12:00 SAĐã ban hành
CÔNG KHAI ĐIỂU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2010 TỈNH BẾN TRE.CÔNG KHAI ĐIỂU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2010 TỈNH BẾN TRE.
Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 tỉnh Bến Tre đã được Chính phủ xét duyệt tại Nghị quyết số 17/2006/NQ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2006, Sở Tài nguyên và Môi trưòng xin thông báo công khai các nội dung đã được xét duyệt.



Diện tích, cơ cấu các loại đất :




Diện tích chuyển mục đích sử dụng đất :



Diện tích đất phải thu hồi :



Diện tích đất chưa sử dụng vào sử dụng cho các mục đích :



20/08/2007 12:00 SAĐã ban hành
Góp ý Dự thảo Nghị quyết Quy định  về  chính  sác h  thúc  đẩy  tập  trung  đất  đai,  tạo  quỹ  đất  để  thu  hút  doanh  nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông  thôn trên địa bàn tỉnh Bến TreGóp ý Dự thảo Nghị quyết Quy định  về  chính  sác h  thúc  đẩy  tập  trung  đất  đai,  tạo  quỹ  đất  để  thu  hút  doanh  nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông  thôn trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Nghị quyết Quy định  về  chính  sác h  thúc  đẩy  tập  trung  đất  đai,  tạo  quỹ  đất  để  thu  hút  doanh  nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông  thôn trên địa bàn tỉnh Bến Tre
          Sở Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì thực hiện soạn thảo dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Quy định về chính sách thúc đẩy tập trung đất đai, tạo quỹ đất để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

            Ý kiến góp ý của các đơn vị, cá nhân gửi bằng văn bản về Sở Tài nguyên và Môi trường (địa chỉ Số 01, Trần Quốc Tuấn, Phường 2, thành phố Bến Tre), File số gửi về địa
ccqldd.stnmt@bentre.gov.vn để Sở tổng hợp, hoàn chỉnh và trình Ủy ban nhân dân tỉnh.

            Thời gian góp ý: 21/9/2018 - 21/10/2018

25/09/2018 9:00 SAĐã ban hành
Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Mùa mặn 2016-2017)Bản tin tình hình xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre (Mùa mặn 2016-2017)
Bản tin dự báo độ mặn - Bản tin mặn cuối cùng - Mùa mặn 2016-2017 (Tuần 24/2017)

I/ TÓM TẮT TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TỪ NGÀY 06 ĐẾN 07 GIỜ NGÀY 13/06/2017 (TUẦN 23/2017):

Diễn biến xâm nhập mặn cao nhất hàng ngày có xu thế giảm nhẹ ít biến đổi từ ngày 06 đến 13.

Độ mặn xâm nhập sâu nhất xuất hiện trong các ngày 06-11  ở mức xấp xỉ thấp hơn so với tuần trước và thấp hơn so với cùng thời kỳ năm 2016.

Độ mặn cao nhất đo được tại các nơi như sau:

Ø Trên sông Cửa Đại:

+ Tại Bình Đại (cảng cá Bình Đại - huyện Bình Đại): 18.6 ‰  ngày 06.

+ Tại Lộc Thuận (xã Lộc Thuận - huyện Bình Đại): 3.2 ‰  ngày 06.

+ Tại Giao Hoà (xã Giao Hoà - huyện Châu Thành): 0.2 ‰  ngày 06-11.

Ø Trên sông Hàm Luông:

+ Tại An Thuận (cảng cá Tiệm Tôm – huyện Ba Tri): 12.3 ‰  ngày 06.

+ Tại Sơn Đốc (xã Hưng Lễ – huyện Giồng Trôm): 0.4 ‰  ngày 06, 10, 11.

+ Tại Phú Khánh (xã Phú Khánh – huyện Thạnh Phú): 0.1 ‰ ngày 06.

+ Tại Vàm Thủ Cửu (xã Phước Long – huyện Giồng Trôm): 0.1 ‰.

+ Tại Mỹ Hoá (phường 07 – Tp. Bến Tre): 0.1 ‰.

Ø Trên sông Cổ Chiên:

+ Tại Bến Trại (xã An Thuận – huyện Thạnh Phú): 9.3 ‰  ngày 13.

+ Tại Hương Mỹ (xã Hương Mỹ – huyện Mõ Cày Nam): 0.2 ‰  ngày 06.

+ Tại Thành Thới B (xã Thành Thới B – huyện Mõ Cày Nam): 0.1 ‰.

Độ mặn 4 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Lộc Thuận - Phú Vang (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 20-22km).

- Sông Hàm Luông: xã An Hiệp (huyện Ba Tri) – Mỹ An (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 16-18km).

- Sông Cổ Chiên: xã Bình Thạnh - Hòa Lợi (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 16-18km).

Độ mặn 1 ‰ trên các sông chính đã xâm nhập đến:

- Sông Cửa Đại: xã Phú Thuận (huyện Bình Đại), (cách cửa sông khoảng 32-34km).

- Sông Hàm Luông: xã Hưng Lễ (huyện Giồng Trôm) – Phú Khánh (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 24-26km).

- Sông Cổ Chiên: xã Thới Thạnh (huyện Thạnh Phú), (cách cửa sông khoảng 26-28km).

II / DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂM NHẬP MẶN TRONG THỜI GIAN TỚI:

Xâm nhập mặn trên các sông chính trong tỉnh có xu thế lùi dần về cửa sông. Trong nửa cuối tháng 06 còn xuất hiện 01 đợt xâm nhập mặn với độ mặn 4o/oo xâm nhập sâu nhất cách cửa sông khoảng 30km, độ mặn 1o/oo xâm nhập sâu nhất khoảng 40km rồi rút nhanh. Sau đó mặn xâm nhập giảm nhanh cho đến cuối tháng 07 năm 2017, lúc này độ mặn 4o/oo chỉ tồn tại ở vùng cửa sông.

 Đây là bản tin dự báo xâm nhập mặn cuối cùng trong mùa mặn năm nay.

 (Bản tin dự báo xâm nhập mặn tiếp theo sẽ được phát trong tháng 12 năm nay)

TUAN24.png 

Ban tin man 20-6-2017 (Tuan24).png

20/06/2017 3:00 CHĐã ban hành
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CHỈ XƠ DỪA GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DÒNG SÔNG THOM DẦN ĐƯỢC KHẮC PHỤCTÌNH HÌNH SẢN XUẤT CHỈ XƠ DỪA GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DÒNG SÔNG THOM DẦN ĐƯỢC KHẮC PHỤC
Ngành sản xuất chỉ xơ dừa đã được hình hành rất lâu và bắt đầu phát triển từ năm 1996, cho đến những năm gần đây ngành sản xuất chỉ xơ dừa mới thật sự phát triển mạnh
Ngành sản xuất chỉ xơ dừa đã được hình hành rất lâu và bắt đầu phát triển từ năm 1996, cho đến những năm gần đây ngành sản xuất chỉ xơ dừa mới thật sự phát triển mạnh, kết quả điều tra năm 2005 có khoảng 200 cơ sở sản xuất chỉ sơ dừa trên toàn huyện Mỏ Cày, phát triển tập trung mạnh nhất ở các xã Khánh Thạnh Tân, Đa Phước Hội, An Thạnh, Thành Thới B nằm dọc theo tuyến sông Thom có khoảng 135 cơ sở.


Sản xuất chỉ xơ thải ra lượng mụn dừa giao động từ 300-500 tấn/ngày, tập trung nhiều nhất vào khoảng tháng 4-9 hằng năm. Phần lớn mụn dừa không có bãi chứa hoặc có bãi chứa khi quá tải thì chủ cơ sở thải đổ trực tiếp xuống sông Thom gây ô nhiễm môi trường và lan rộng ra các nhánh của sông Thom, ảnh hưởng đến chất lượng nước sinh hoạt của người dân và huỷ diệt nguồn lợi thuỷ sinh vật.

Trong thời gian qua, Sở Tài nguyên và Môi trường luôn xem trọng giải quyết vấn đề mụn dừa gây ô nhiễm môi trường, Sở đã thực hiện nhiều đợt khảo sát đánh giá mức độ ảnh hưởng đến môi trường và thực hiện nhiều kế hoạch kiểm soát nhắc nhỡ, kế hoạch thanh kiểm tra nhằm hạn chế mức thấp nhất việc thải mụn dừa xuống sông Thom; kêu gọi các đơn vị đầu tư xử lý mụn dừa; khuyến thích người dân thu gom và sử dụng mụn dừa vào sản xuất nông nghiệp.

Qua đó, ngày càng nhiều lượng mụn dừa được người dân địa phương và một số tỉnh khác thu gom để sử dụng cho nông nghiệp, hiện đã có 2 nhà máy đầu tư lấy mụn dừa để sản xuất đất sạch, từ đó lượng mụn dừa đổ xuống dòng sông Thom giảm đáng kể. Tình hình ô nhiễm môi trường sông Thom được cải thiện.

Trong thời gian tới, để xử lý hết lượng mụn dừa nhằm bảo vệ môi trường nước dòng sông Thom, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Trung tâm Tư vấn, Đào tạo và Chuyển giao công nghệ môi trường thuộc Cục Bảo vệ môi trường xây dựng đề án "Mô hình quản lý và hỗ trợ kỹ thuật xử lý mụn dừa". Đồng thời, Sở cũng sẽ phối hợp với các đơn vị có liên quan tiến hành hoàn chỉnh quy hoạch làng nghề sản xuất chỉ xơ dừa, xây dựng đề án thu gom mụn dừa, khuyến thích các đơn vị đầu tư xử lý mụn dừa.
Văn Ngoan

04/10/2007 12:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tháng 01 năm 2019Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tháng 01 năm 2019
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tháng 01 năm 2019
01/02/2019 10:00 SAĐã ban hành
“Hãy bảo vệ đất ngập nước vì tương lai chúng ta”“Hãy bảo vệ đất ngập nước vì tương lai chúng ta”
Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (công ước Ramsar) được ký ngày 02/02/1971 tại thành phố Ramsar, Iran. Để kỷ niệm sự kiện này, các nước đã chọn ngày 02/02 hàng năm là Ngày Đất ngập nước thế giới và tổ chức các hoạt động kỷ niệm nhằm nâng cao nhận thức về các giá trị, lợi ích của đất ngập nước, khuyến khích bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước.

 Việt Nam tham gia công ước từ năm 1989, là quốc gia đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á và là một trong 168 quốc gia tham gia công ước này. Kể từ năm 1997 đến nay, kỷ niệm Ngày Đất ngập nước đã trở thành một hoạt động thường niên và được các địa phương tích cực hưởng ứng.




     Chủ đề Ngày Đất ngập nước thế giới năm 2015 là “Hãy bảo vệ đất ngập nước vì tương lai chúng ta” nhằm nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân về tầm quan trọng của các vùng đất ngập nước và kêu gọi cộng đồng cùng tham gia vào các hoạt động bảo tồn, phát triển bền vững tại các vùng đất ngập nước.
Đất ngập nước là gì?

     Theo công ước Ramsar, đất ngập nước gồm: những vùng đầm lầy, miền đầm lầy, vùng đất than bùn, vùng đất tự nhiên hoặc nhân tạo, có thể tồn tại lâu dài hay tạm thời, có nước tĩnh hoặc nước chảy, là nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, bao gồm cả những vùng nước biển có độ sâu không quá 6 mét khi triều kiệt.

     Đất ngập nước có vai trò như thế nào?

     Đất ngập nước đảm bảo cung cấp nước sạch: Chỉ 3% lượng nước trên thế giới là nước ngọt và hầu hết chúng tồn tại ở dạng đóng băng. Tuy nhiên, mỗi người cần 20-50 lít nước phục vụ ăn uống và làm sạch hàng ngày. Đất ngập nước cung cấp nước và bổ sung các tầng chứa nước ngầm phục vụ nhu cầu của con người.

     Đất ngập nước làm sạch và lọc các chất có hại từ nước thải: Các loài thực vật trong vùng đất ngập nước có thể giúp hấp thụ phân bón, thuốc trừ sâu, kim loại nặng và các chất độc từ ngành công nghiệp. Một vùng đất ngập nước vài chục hecta có khả năng lọc và xử lý nước thải tương đương với một trạm xử lý nước nhiều triệu đô-la.

     Đất ngập nước nuôi sống nhân loại: Đất ngập nước cung cấp 20% nguồn thực phẩm trên toàn cầu. Lúa nước là cây lương thực nuôi sống gần 3 tỉ người trên thế giới và chúng được trồng trên các ruộng đất ngập nước. Hằng năm, mỗi người tiêu thụ 19 kg cá. Hầu hết các giống cá sinh sản và phát triển trong đầm lầy ven biển và cửa sông. 70% nước ngọt trên thế giới được sử dụng để tưới cho cây trồng.

     Đất ngập nước chứa đựng giá trị đa dạng sinh học cao: Đất ngập nước là nhà của hơn 100.000 loài nước ngọt, là nơi cần thiết cho cuộc sống của nhiều loài động vật hoang dã, đặc biệt là các loài chim nước.

     Đất ngập nước đóng vai trò hấp thụ nước tự nhiên: Vùng đất than bùn và cỏ ướt trong lưu vực sông hấp thụ nước mưa. Bằng cách giữ và điều hòa lượng nước mưa như “bồn chứa” tự nhiên, giải phóng nước lũ từ từ, từ đó có thể làm giảm hoặc hạn chế lũ lụt ở vùng hạ lưu.

     Đất ngập nước giúp chống lại biến đổi khí hậu: Nhiều nghiên cứu cho thấy, đất ngập nước có thể làm giảm những tác động từ biến đổi khí hậu, mặc dù chỉ chiếm 6-8% diện tích bề mặt Trái đất. Các vùng đất than bùn lưu trữ lượng các-bon gấp đôi so với tất cả các khu rừng trên thế giới. Đối mặt với nước biển dâng, vùng đất ngập nước ven biển giảm tác động của bão và sóng thần, giúp giảm thiểu và chống xói mòn.

     Đất ngập nước cung cấp các sản phẩm và sinh kế bền vững: Gần 62 triệu người trên thế giới phụ thuộc trực tiếp đánh bắt thủy sản để kiếm sống. Các hệ sinh thái đất ngập nước có nhiều thuận lợi cho du lịch sinh thái, xây dựng các khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia,..
Điều gì sẽ xảy ra khi tương lai không có đất ngập nước?

     Theo ước tính 64% các vùng đất ngập nước trên thế giới đã biến mất kể từ năm 1900. Sự suy giảm nhanh chóng của các vùng đất ngập nước đồng nghĩa với việc tiếp cận nguồn nước ngọt của 1-2 tỉ người trên thế giới bị ảnh hưởng. Đa dạng sinh học cũng bị ảnh hưởng, quần thể các loài nước ngọt đã giảm 76% trong giai đoạn từ năm 1970-2010.

     Nguyên nhân chính làm mất và suy thoái các vùng đất ngập nước là những thay đổi lớn trong sử dụng đất, đặc biệt gia tăng trong nông nghiệp và chăn thả gia súc. Ô nhiễm không khí, nước và dư thừa chất dinh dưỡng.

     Bảo vệ tương lai của chúng ta: bạn có thể làm gì?

     Bằng kinh nghiệm của bản thân bạn có thể giúp nâng cao nhận thức của mọi người xung quanh về những lợi ích mà các vùng đất ngập nước mang lại.

     Tổ chức các hoạt động làm sạch môi trường ở nơi sống và ở các vùng đất ngập nước, tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường.

     Việt Nam có những khu Ramsar nào được quốc tế công nhận?

     Đến tháng 11/2014, Việt Nam có 6 khu ramsar được công nhận: khu ramsar Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu), khu ramsar Tràm Chim (Đồng Tháp), khu ramsar Mũi Cà Mau (Cà Mau), khu ramsar Giao Thủy (Nam Định), khu ramsar Bàu Sấu (Đồng Nai) và khu ramsar Ba Bể (Bắc Kạn).

     Bến Tre bảo tồn đất ngập nước như thế nào?

     Bến Tre được hình thành từ 3 dãi cù lao lớn nằm ở cuối nguồn sông Cửu Long, nơi giao lưu giữa sông và biển, vùng cửa sông đã hình thành hệ sinh thái đất ngập nước khá độc đáo và có tầm quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

     Đất ngập nước Bến Tre thuộc 02 nhóm chính là đất thấp ngập nước ven biển và đất ngập nước triều, với 11 kiểu loại khác nhau, hình thành nên 04 hệ sinh thái: nông nghiệp ven biển, vùng cửa sông hình phểu, bãi cát biển và rừng ngập mặn. Từ năm 1998 đến nay, với sự hỗ trợ của Trung ương, Bến Tre đã đầu tư kinh phí xây dựng và bảo vệ các vùng đất ngập nước phân bố ở 03 huyện: Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú. Đặc biệt tỉnh đã thành lập sân chim Vàm Hồ (Ba Tri) và Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú là 02 vùng đất ngập nước có tầm quan trọng khu vực, quốc gia và quốc tế, là nơi cư trú của các loài chim nước.




25/02/2015 4:00 CHĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận Từ ngày 01/6 Đến ngày 08/6/2018Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận Từ ngày 01/6 Đến ngày 08/6/2018
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận Từ ngày 01/6 Đến ngày 08/6/2018
08/06/2018 9:00 SAĐã ban hành
Tìm hiểu chức năng mới của ngành Tài nguyên v à Môi trường: QUẢN LÝ TỔNG HỢP VỀ BIỂN, HẢI ĐẢOTìm hiểu chức năng mới của ngành Tài nguyên v à Môi trường: QUẢN LÝ TỔNG HỢP VỀ BIỂN, HẢI ĐẢO
Biển và hải đảo là vùng lãnh thổ rộng lớn, có vai trò, vị trí quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, có ý nghĩa chiến lược và đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ta trong giai đoạn hiện nay cũng như về lâu dài



Biển và hải đảo là vùng lãnh thổ rộng lớn, có vai trò, vị trí quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, có ý nghĩa chiến lược và đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ta trong giai đoạn hiện nay cũng như về lâu dài. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá X về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã nêu rõ “ Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm; sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển trong khu vực, gắn liền với bảo vệ quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế”.
Ngày 04/3/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Trong đó xác định Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý tổng hợp về biển và hải đảo.
Quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển, ven biển và hải đảo bao gồm các nội dung : xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển, ven biển và hải đảo; phân vùng, lập quy hoạch khai thác, sử dụng bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, ven biển và hải đảo; kiểm tra giám sát các ngành và địa phương trong việc xây dựng, ban hành và việc tổ chức thực hiện cơ chế chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, ven biển và hải đảo; giải quyết các vấn đề liên quan đến khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trường biển, ven biển và hải đảo giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương; xây dựng cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành và địa phương trong quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển, ven biển và hải đảo; thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng để quản lý, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, ven biển và hải đảo.
Ngày 15/7/2008, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư Liên tịch số 03/2008/TTLT-BTNMT-BNV hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về tài nguyên và môi trường thuộc Ủy ban nhân dân các cấp. Trong đó đã xác định Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý tổng hợp về biển và hải đảo. Theo đó, chức năng quản lý tổng hợp biển và hải đảo của Sở Tài nguyên và Môi trường gồm:
- Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh các cơ chế, chính sách thu hút, khuyến khích và bảo đảm quyền cư trú, sản xuất, kinh doanh trên các đảo ven bờ phù hợp với các mục tiêu về bảo vệ chủ quyền quốc gia, phát triển bền vững kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường biển;
- Chủ trì hoặc tham gia thẩm định, đánh giá các quy hoạch mạng lưới dịch vụ và các dự án đầu tư công trình, trang thiết bị phục vụ quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo thuộc thẩm quyền quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật;
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp vùng duyên hải của địa phương sau khi được phê duyệt;
- Chủ trì giải quyết hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền giải quyết các vấn đề về quản lý, khai thác tài nguyên biển và hải đảo liên ngành, liên tỉnh liên quan đến địa bàn địa phương;
- Chủ trì, tham gia với các cơ quan có liên quan trong việc điều tra, đánh giá tiềm năng tài nguyên biển, hải đảo; thu thập, xây dựng dữ liệu về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo ở địa phương;
- Tổ chức thực hiện tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và khai thác có hiệu quả các lợi ích, tiềm năng kinh tế biển, ven biển và hải đảo liên quan đến địa phương.
Như vậy có thể thấy rằng, quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển, ven biển và hải đảo bao là phương thức, quá trình quản lý lồng ghép và kết hợp quản lý liên ngành, theo lãnh thổ, bảo đảm lợi ích quốc gia kết hợp hài hoà lợi ích của các ngành, lĩnh vực, địa phương và các tổ chức, cá nhân liên quan trong việc khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, ven biển và hải đảo. Chức năng quản lý này do cơ quan tài nguyên và môi trường các cấp đảm nhiệm.
Tìm năng biển Việt Nam là một lợi thế lớn, là điểm tựa phát triển của đất nước trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Tuy nhiên, tìm năng đó sẽ không thể trở thành hiện thực nếu thiếu đi một chiến lược tổng thể cùng những mục tiêu, biện pháp thực thi cụ thể. Tổng cục Biển và Hải đảo ra đời trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường được giao thêm chức năng quản lý tổng hợp về biển và hải đảo đã đánh dấu một bước ngoặc quan trọng là biển Việt Nam đã chính thức có cơ quan quản lý. Khi cơ quan này thực hiện đầy đủ và có hiệu quả các chức năng của mình sẽ thúc đẩy nhanh hơn tiến trình phát triển kinh tế biển của nước ta.
Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang khẩn trương lấy ý kiến các ngành, địa phương dự thảo nội dung Nghị định về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo để trình Chính phủ xem xét sớm ban hành trong thời gian tới.

VĨNH THỊNH




21/11/2008 12:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 18/03/2019 đến ngày 22/03/2019Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 18/03/2019 đến ngày 22/03/2019
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 18/03/2019 đến ngày 22/03/2019
26/03/2019 8:00 SAĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 10/12/2018 đến ngày 14/12/2018Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 10/12/2018 đến ngày 14/12/2018
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 10/12/2018 đến ngày 14/12/2018
17/12/2018 5:00 CHĐã ban hành
Quy định mới về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013Quy định mới về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013
Ngày 06 tháng 01 năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2017/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai

          Ngày 06 tháng 01 năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2017/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai.

Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định về giá đất và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Nghị định số 01/2017/NĐ-CP bao gồm 06 điều, trong đó sửa đổi, bổ sung từng Nghị định cụ thể như sau:

- Tại Điều 2 quy định sửa đổi, bổ sung 62 nội dung của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP bao gồm: việc xác nhận nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp; thu hồi đất đối với trường hợp chấp dứt hoạt động của dự án đầu tư; bổ sung một số giấy tờ về quyền sử dụng đất lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; quy định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích tăng thêm so với giấy tờ về quyền sử dụng đất; sử dụng đất của tổ chức kinh tế do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư; quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối vời từng loại đất; giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính về đất đai; quy định cho phép cập nhật công trình, dự án vào kế hoạch sử dụng đất của năm tiếp theo,…

- Tại Điều 3 quy định sửa đổi, bổ sung 06 nội dung của Nghị định số 44/2014/NĐ-CP bao gồm: quy định giá đất trong khung giá đất, bảng giá đất đối với đất sử dụng có thời hạn được tính tương ứng với thời hạn sử dụng đất là 70 năm; trách nhiệm tổ chức xác định giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất; quy định các trường hợp áp dụng giá đất cụ thể được xác định bằng phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất tại khoản 5 Điều 4 của Nghị định này, quy định về việc cấp giấy Chứng chỉ định giá đất,…

- Tại Điều 4 quy định sửa đổi, bổ sung 08 nội dung của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, bao gồm: bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất có nguồn gốc giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 nhưng đã nộp tiền sử dụng đất mà chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; xử lý tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã nộp, chi phí đầu tư vào đất còn lại, tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất; quy định đối tượng được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; quy định việc hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp, …

Nghị định số 01/2017/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 03 tháng 03 năm 2017.

N.K.Phương

Đính kèm: Nghi Dinh 01_2017-NĐ-CP.pdf
03/02/2017 10:00 SAĐã ban hành
CÓ MỘT ĐIỀU KIỆN QUÁ DỄ DÀNG ĐỂ ĐƯỢC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤTCÓ MỘT ĐIỀU KIỆN QUÁ DỄ DÀNG ĐỂ ĐƯỢC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Theo quy định mới nhất của pháp luật đất đai, người đang sử dụng đất ổn định, được ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.



Trong các loại giấy tờ nêu trên, việc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính là một điều kiện rất thoáng và dễ dàng cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng thực tế, vấn đề này vẫn chưa được quan tâm và vận dụng đúng mức vì những lý do nào đó (Để biết Sổ đăng ký ruộng đất là gì, Sổ địa chính là gì, xin xem ghi chú phần a và b dưới đây).
Có thể nói, điều kiện nêu trên chưa được quan tâm thể hiện ở chỗ: việc cung cấp thông tin “có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính” hay không chưa có dịch vụ cung cấp ở các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, việc thẩm tra hồ sơ và xác nhận trong các hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng chưa được lưu ý đúng mức, mẫu hồ sơ xác nhận thông tin này chưa có,… Trong khi đó, hồ sơ địa chính do cơ quan nhà nước xác lập, xét duyệt và quản lý hồ sơ,… Việc đòi hỏi người dân cung cấp được giấy tờ nêu trên chẳng khác nào việc “đánh đố” người sử dụng đất, gây ra lủng củng và rườm rà trong quản lý.
Tuy nói có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính là một điều kiện rất thoáng và dễ dàng nhưng bản chất của việc được có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính là thành quả của một quá trình xác lập cơ sở pháp lý khá nghiêm ngặt, từ khâu đo đạc ngoài thực địa - kiểm tra - kê khai đăng ký - xét duyệt của hội đồng - công khai hồ sơ, kết thúc hồ sơ - lập sổ… theo một quy trình của cấp trung ương ban hành. Việc xem xét giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ban đầu là một phần của quy trình chung đó. Trong thực tế, vì lý do nào đó như thay đổi cán bộ địa chính, thành phần cán bộ Hội đồng đăng ký xét duyệt có thay đổi, chuyển công tác, mẫu hồ sơ có thay đổi,… mà trải qua một thời gian dài người sử dụng đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay nếu đất đai không có biến động mà đem xem xét lại từ đầu thì thật là lãng phí thời gian, tiền bạc của nhân dân, trong khi không khai thác được thông tin từ thành quả đã xây dựng hồ sơ địa chính trước đây.
Cách xem xét giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ban đầu như thời gian qua có thể nói là không toàn diện, làm biến dạng và kém hiệu quả tiến trình cải cách hành chính, gây lãng phí,… thậm chí là điều kiện để phát sinh tiêu cực.
Thiết nghĩ, các cơ quan có thẩm quyền và các cơ quan chuyên ngành quản lý đất đai cần có sự quan tâm đến vấn đề nêu trên để đảm bảo đầy đủ quyền lợi của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Mặt khác, nếu làm được và làm tốt vấn đề trên sẽ góp phần đáng kể trong việc đơn giản hoá thủ tục hành chính, hạn chế lãng phí các nguồn lực của nhà nước và nhân dân.

Ghi chú:
a- Sổ đăng ký ruộng đất: Được ban hành theo Quyết định số 56-ĐKTK ngày 05 tháng 11 năm 1981 của Tổng cục Quản lý ruộng đất. Sổ đăng ký ruộng đất có Sổ mẫu số 5a (dùng để ghi tổ chức) và Sổ mẫu 5b (dùng để ghi hộ gia đình, cá nhân); các sổ 5a, 5b này đều được lập trên cơ sở các đơn xin đăng ký ruộng đất đã được xét duyệt (tức là việc sử dụng đất được công nhận là hợp pháp).
b- Sổ địa chính: Được ban hành theo quyết định số 201-QĐ/ĐKTK ngày 14 tháng 7 nằm 1989 của Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý ruộng đất. Theo qui định thì Sổ địa chính được lập có nội dung như Sổ đăng ký ruộng đất (chỉ khác tên gọi). Như vậy, giá trị pháp lý giữa Sổ đăng ký ruộng đất và Sổ địa chính là như nhau.
(Tổng hợp từ: Luật Đất đai 2003; Hỏi đáp Pháp luật về Tài nguyên và Môi trường của Bộ TNMT-NXB Bản đồ-Hà Nội, năm 2007)

Mai Dũng Minh



21/08/2008 12:00 SAĐã ban hành
Chỉ thị số 10 của tỉnh Ủy về nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trườngChỉ thị số 10 của tỉnh Ủy về nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường
Chỉ thị số 10-CT/TU của tỉnh Ủy về nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường

​Tải nội dung: 2. CHI THI 10.PDF

09/01/2017 8:15 SAĐã ban hành
HƯỚNG DẪN THU GOM, LƯU TRỮ, BẢO QUẢN VÀ DÁN NHÃN CHẤT THẢI NGUY HẠI (CTNH)HƯỚNG DẪN THU GOM, LƯU TRỮ, BẢO QUẢN VÀ DÁN NHÃN CHẤT THẢI NGUY HẠI (CTNH)
Các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phát sinh chất thải nguy hại (CTNH) với khối lượng nhỏ nên gặp khó khăn trong việc hợp đồng với đơn vị có chức năng để chuyển giao CTNH. Theo quy định, các doanh nghiệp có thể lưu trữ tạm thời CTNH tại doanh nghiệp trong khoảng thời gian tối đa 06 tháng, khi khối lượng CTNH lớn chủ doanh nghiệp phải chuyển giao cho các đơn vị có giấy phép hành nghề vận chuyển, xử lý CTNH. Do đó việc thu gom, đóng gói, dán nhãn CTNH tại doanh nghiệp là khâu có ý nghĩa, tầm quan trọng cho việc lựa chọn phương pháp xử lý phù hợp và đảm bảo an toàn trong lưu giữ, vận chuyển.



Quá trình thu gom chất thải tại nguồn được thực hiện bởi các công nhân trong doanh nghiệp. Tùy thuộc vào dây chuyền sản xuất và bố trí lao động mà mỗi doanh nghiệp có 01 phương thức thu gom CTNH khác nhau. Việc vận chuyển CTNH từ chủ nguồn thải đến nơi xử lý được tiến hành bởi thỏa thuận giữa chủ nguồn thải và chủ vận chuyển, xử lý CTNH.
Đóng gói CTNH thường được thực hiện bởi chủ nguồn thải CTNH, việc đóng gói phải thỏa mãn các quy định:
Đóng gói bằng bao bì có chất lượng tốt, không bị lỗi kỹ thuật. Bao bì phải được đóng kín và ngăn ngừa rò rỉ khi vận chuyển. Không để CTNH dính bên ngoài bao bì. Bao bì mới hoặc bao bì tái sử dụng phải đảm bảo đầy đủ các tính năng (tính ăn mòn, tính chịu ma sát…) và yêu cầu kỹ thuật (áp suất, nhiệt độ…) của bao bì được phép sử dụng. Bản chất và độ dày của lớp bao bì phải thích hợp, không gây ra nhiệt trong quá trình vận chuyển.
Bao bì (kể cả phụ tùng đi kèm như nắp, vòi, vật liệu bịt kín,…) tiếp xúc trực tiếp với CTNH phải bền, không tương tác hóa học hay tác động khác với chất đó. Vật liệu làm bao bì không chứa thành phần có thể phản ứng với chất chứa bên trong tạo ra những sản phẩm nguy hiểm hay sản phẩm làm giảm độ bền của bao bì. Một số loại vật liệu plastic, có thể mềm, bị nứt gãy hay bị thấm do thay đổi nhiệt độ, do những phản ứng hóa học của vật chứa hay do việc sử dụng tác nhân lạnh, thì không được sử dụng.
Những kiện hàng chứa chất thải lỏng nguy hại (ngoại trừ chất thải lỏng dễ cháy) đựng trong các bao bì có dung tích nhỏ hơn 120 ml hoặc chất truyền nhiễm phải được sắp xếp sao cho phần nắp bao bì phải hướng lên phía trên và phải dùng nhãn chỉ hướng biểu thị thẳng đứng của bao bì. Kiện hàng phải có đủ chỗ trống để dán nhãn và những dấu hiệu theo quy định.
Việc dán nhãn trên các thùng chứa và sử dụng biển báo trên phương tiện vận chuyển có ý nghĩa rất quan trọng. Thực hiện tốt công tác này sẽ giúp tránh được các sự cố trong quá trình bốc dỡ, sắp xếp chất thải trong kho lưu giữ, vận chuyển và giúp cho việc lựa chọn biện pháp ứng cứu thích hợp khi có sự cố xảy ra. Việc dán nhãn CTNH là trách nhiệm của chủ nguồn thải CTNH. Các thiết bị, bao bì được sử dụng để chứa, lưu giữ, vận chuyển CTNH phải được dán nhãn hiệu cảnh báo có chữ “Chất thải nguy hại”. CTNH phải được làm rõ thuộc loại CTNH nào. Phần quan trọng của việc dán nhãn cảnh báo CTNH là thời gian bắt đầu tích luỹ, chứa CTNH. Về nguyên tắc, chủ nguồn thải CTNH không được phép lưu giữ CTNH quá 06 tháng, nếu chưa được phép. Do đó việc ghi ngày bắt đầu lưu giữ CTNH được sử dụng để xác định và kiểm soát quá trình lưu giữ có đúng quy định không.
Nhãn CTNH gồm các thông tin sau: Tên CTNH, mã CTNH; Tên và địa chỉ của chủ nguồn thải; Các tính chất nguy hại hoặc nguy cơ do chất thải có thể gây ra; Dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6707-2009 về “Chất thải nguy hại - Dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa”; Ngày bắt đầu được đóng gói, bảo quản.
Dấu hiệu cảnh báo CTNH gồm hình tam giác đều, viền đen, nền tam giác màu vàng với các biểu tượng màu đen và chữ (nếu có) màu đen được kết hợp sử dụng.



Khi dán nhãn hay treo biển báo CTNH cần tuân thủ các qui định sau: Mọi CTNH phải được dán dấu hiệu cảnh báo. Các nhãn cảnh báo CTNH phải có hình dạng, màu sắc, ký hiệu và chữ viết theo đúng quy định. Kích cỡ tối thiểu của các nhãn là 10 cm x 10 cm, khoảng cách xa 01 m có thể nhìn thấy được. Vật liệu làm nhãn và mực in trên nhãn phải bền trong điều kiện vận chuyển thông thường và bảo đảm còn rõ ràng dễ nhận ra bất kỳ lúc nào. Một CTNH có nhiều đặc tính nguy hại thì phải dán đầy đủ các nhãn hiệu cảnh báo cho từng loại đặc tính nguy hại đó.
Ví dụ : Dầu động cơ, hộp số và bôi trơn tổng hợp thải có các tính chất nguy hại là có độc tính (Đ), độc tính sinh thái (ĐS) và dể cháy (C) nên phải dán 03 nhãn cảnh báo nguy hại vào bao bì lưu trữ (Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường).
Mọi nhãn cảnh báo phải được in hoặc dán chắc chắn trên bao bì dễ nhận biết, rõ ràng và không bị che khuất bởi bất kì phần nào trên bao bì hay bị che bởi nhãn khác. Các nhãn không được gấp nếp hay không được dán theo cách mà các phần của nhãn nằm trên các phần khác nhau của bao bì lưu giữ. Nếu bề mặt bao bì không đủ chỗ thì phải chấp nhận dùng móc gắn kèm nhãn lên bao bì.
Khu vực lưu giữ CTNH cần được xác định rõ vị trí tách biệt với nơi sản xuất và phải gắn bảng ghi rõ là Khu vực lưu giữ chất thải nguy hại.
Nơi lưu giữ CTNH phải đảm bảo các nguyên tắc: Có mái che hoặc có tấm bạc che phủ kín lên trên CTNH đã lưu giữ trong các thùng chứa an toàn để tránh ảnh hưởng do mưa, nắng khi tiếp xúc trực tiếp. Tường hoặc rào lưới bảo vệ xung quanh. Có đường thoát nước riêng để tránh rò rỉ CTNH vào đường thoát nước chung. Đặt trên các pallet đảm bảo không tiếp xúc trực tiếp với mặt đất. Trang bị vật liệu thấm hút để sử dụng nếu có sự cố chảy tràn CTNH. Trang bị dụng cụ PCCC.
Bố trí sắp đặt tại nơi lưu giữ: Tách biệt các loại CTNH theo dạng rắn, lỏng, bùn trong các bao bì phù hợp và trên các bao bì phải dán các biển báo CTNH theo đúng qui định. Có thùng chứa bổ sung bên ngoài cho thùng chứa chất thải dạng lỏng. Trang bị bảo hộ lao động đầy đủ, phù hợp và nên để nơi thông thoáng.
Mai Hanh



17/11/2010 12:00 SAĐã ban hành
Thông báo về việc góp ý dự thảo văn bảnThông báo về việc góp ý dự thảo văn bản
Góp ý Quy chế Phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo tỉnh Bến Tre

I. Nội dung

   Sở Tài nguyên và Môi trường đã Dự thảo Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

   Để hoàn chỉnh Dự thảo Quy chế và có cơ sở trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành, Sở Tài nguyên và Môi trường kính đề nghị quý cơ quan, đơn vị đóng góp ý kiến Dự thảo Quy chế và gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp.

II. Thời gian
    Thời gian góp ý dự thảo văn bản: Từ ngày 08/8/2017 đến ngày 08/9/2017
III. Địa chỉ nhận góp ý
     Các ý kiến đóng góp về nội dung của văn bản trên gửi về Chi cục Biển và Hải đảo - Sở Tài nguyên và Môi trường, có thể bằng văn bản hoặc địa chỉ email (nguyennhan2883@gmail.com).

Tải nội dung văn bản dự thảo:

DuThao_Quy_che_phoi_hop_2017_8_08-UBND.doc

08/08/2017 3:00 SAĐã ban hành
Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng: Phải tập trung xử lý dứt điểm các vụ khiếu kiện kéo dàiPhó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng: Phải tập trung xử lý dứt điểm các vụ khiếu kiện kéo dài
Sáng 17/11, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng chủ trì cuộc họp với lãnh đạo Thanh tra Chính phủ, Bộ Tư pháp và Bộ Công an về những biện pháp giải quyết các vụ việc khiếu kiện kéo dài.



Theo kết quả rà soát của các cơ quan chức năng, thời gian qua, cả nước có 42 vụ việc khiếu nại, tố cáo, kéo dài; trong đó có 17 vụ việc khiếu kiện về đất đai đã được các cơ quan có thẩm quyền của địa phương và Trung ương xem xét giải quyết theo trình tự của pháp luật, bảo đảm thấu tình, đạt lý; nhưng công dân không chấp hành và tiếp tục khiếu kiện kéo dài nhiều năm. Đáng chú ý 15 trong tổng số 17 vụ việc trên đã được các cơ quan ở Trung ương có ý kiến chỉ đạo. Tuy nhiên, một số vụ việc đã có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ nhưng các địa phương xem xét giải quyết còn chậm trễ. Có 10 vụ việc tại 7 tỉnh, thành phố liên quan đến đòi lại nhà đất, đền bù, thu hồi đất; tranh chấp quyền sử dụng đất; thanh toán tài sản trưng mua; kỷ luật buộc thôi việc... đã được các cơ quan có thẩm quyền tại Trung ương đề nghị chính quyền địa phương rà soát, xem xét lại.
Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng yêu cầu các cơ quan chức năng cần có ngay các biện pháp tập trung xử lý dứt điểm các vụ việc trên, không để tồn động kéo dài. Đối với 17 vụ việc đã được các cơ quan có thẩm quyền của địa phương và Trung ương xem xét, các cơ quan chức năng thống nhất để có văn bản từ chối giải quyết tiếp vì sự việc đã được xử lý, giải quyết thấu tình đạt lý, đúng chính sách của luật phát hiện hành; đồng thời, yêu cầu công dân chấp hành các quy định giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền, chấm dứt khiếu nại. Đối với 25 vụ việc khác (15 vụ việc đã được các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương nhiều lần có ý kiến chỉ đạo và 10 vụ việc tại 7 tỉnh, thành phố), Phó Thủ tướng chỉ đạo Bộ Tư pháp, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an... tiếp tục phối hợp chặt chẽ với chính quyền các địa phương rà soát, xem xét và sớm giải quyết dứt điểm tại địa phương.

Theo www.monre.gov.vn



20/11/2008 12:00 SAĐã ban hành
Bến Tre thực hiện "Dự án phân vùng chức năng đới bờ tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030"Bến Tre thực hiện "Dự án phân vùng chức năng đới bờ tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030"
Đới bờ hay còn gọi là vùng ven biển, bao gồm vùng biển ven bờ có ranh giới ngoài cách bờ khoảng 6 hải lý và vùng đất ven biển là các xã, phường, thị trấn giáp biển. Phân vùng chức năng đới bờ nhằm hướng tới khai thác, sử dụng hợp lý các tài nguyên và không gian đới bờ; giảm thiểu xung đột lợi ích giữa các ngành kinh tế; bảo vệ, duy trì và khôi phục các hệ sinh thái đới bờ

SoDoPhamViNghienCuu.jpg

Thực hiện Quyết định số 2295/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Trong đó, giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và các tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc Trung ương thực hiện nhiệm vụ "Xây dựng phân vùng chức năng đới bờ". sau một thời gian nghiên cứu, đến ngày 18 tháng 10 năm 2016, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre Quyết định số 2943/QĐ-UBND phê duyệt đề cương dự án "Phân vùng chức năng đới bờ tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030".

Dự án có thời gian thực hiện trong hai năm 2017, 2018 với các nhiệm vụ chính như sau:

- Điều tra, khảo sát, phân tích, đánh giá hiện trạng tài nguyên môi trường; hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường; Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội vùng đới bờ tỉnh Bến Tre;

- Phân tích, đánh giá tổng quát về tình hình quản lý, hiện trạng các quy hoạch, khai thác sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường đới bờ tỉnh Bến Tre; Phân tích thể chế quản lý tài nguyên môi trường hiện hành; Phân tích các mâu thuẫn sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường đới bờ hiện tại và tương lai.

- Đề xuất phân vùng: Đưa ra được các tiêu chí phân loại các vùng sử dụng đới bờ; Lập bản đồ phân vùng đới bờ; Đề xuất các quy định liên quan đến sử dụng đối với các vùng; Đề xuất các chương trình hoạt động, dự án, đề tài ưu tiên thực hiện tại đới bờ tỉnh Bến Tre đến năm 2030.

Phạm vi thực hiện dự án bao gồm phần đất liền và phần biển (xem họa đồ kèm theo):

- Phần đất liền: Bao gồm cả các xã ven biển thuộc ba huyện ven biển của tỉnh Bến Tre, gồm các xã: xã Bình Thắng, Thừa Đức, Thới Thuận huyện Bình Đại; Bảo Thạnh, Bảo Thuận, Tân Thủy,An Thủy huyện Ba Tri; xã Giao Thạnh,An Điền, Thạnh Hải, Thạnh Phong huyện Thạnh Phú.

- Phần biển: Vùng biển ven bờ từ đường từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình nhiều năm ra xa 06 hải lý (theo Điều 8, Nghị định 40/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo).

          Với nhiệm vụ được giao chủ trì thực hiện, Sở Tài nguyên và Môi trường đang khẩn trương phối hợp với các Sở ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, xã ven biển, tổ chức thực hiện dự án để đạt mục tiêu của dự án phân vùng chức năng đới bờ đề ra cả về chất lượng và tiến độ thực hiện nhằm khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên ven biển và các nguồn lợi khác một cách hợp lý, khoa học kết hợp bảo vệ môi trường bền vững; giảm thiểu mâu thuẫn về lợi ích giữa các bên liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên, không gian đới bờ, làm cơ sở cho các ngành và các huyện ven biển của tỉnh xây dựng, điều chỉnh và triển khai thực hiện các quy hoạch, kế hoạch liên quan, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, kết hợp bảo vệ môi trường đới bờ tỉnh Bến Tre theo hướng bền vững./.

Vĩnh Thịnh

06/02/2017 1:40 CHĐã ban hành
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 02/5/2019 đến 05/5/2019Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 02/5/2019 đến 05/5/2019
Danh sách các Quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ 02/5/2019 đến 05/5/2019
06/05/2019 9:00 SAĐã ban hành
HỘI NGHỊ LẤY Ý KIẾN DỰ THẢO LUẬT ĐẤT ĐAI (SỬA ĐỔI) TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TREHỘI NGHỊ LẤY Ý KIẾN DỰ THẢO LUẬT ĐẤT ĐAI (SỬA ĐỔI) TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE
Thực hiện Nghị quyết số 563/NQ-UBTVQH13 ngày 21 tháng 01 năm 2013 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc lấy ý kiến nhân dân đối với Dự thảo Luật đất đai (sửa đổi). Ngày 12 tháng 3 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị triển khai Kế hoạch số 716/KH-UBND ngày 22 tháng 02 năm 2013 tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với Dự thảo Luật đất đai (sửa đổi) trên địa bàn tỉnh Bến Tre và lấy ý kiến trực tiếp đại biểu đối với Dự thảo Luật đất đai (sửa đổi) trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Hội nghị do ông Trần Anh Tuấn - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì.



Tham dự Hội nghị còn có ông Trần Dương Tuấn - Phó Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bến Tre và hơn 100 đại biểu đến từ các Sở, ngành tỉnh, tổ chức, tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể tỉnh và đại biểu của các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh.

Hội nghị đã nghe Sở Tài nguyên và Môi trường triển khai Kế hoạch số 716/KH-UBND ngày 22 tháng 02 năm 2013 của UBND tỉnh và báo cáo tóm tắt những điểm cơ bản của Dự thảo Luật đất đai (sửa đổi).

Qua Hội nghị các đại biểu tập trung thảo luận các nội dung của Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), trong đó xoay quanh các vấn đề như: phải quy định cụ thể trường hợp giao đất không thu tiền sử dụng đất, hạn mức chuyển quyền đất nông nghiệp của hộ, gia đình cá nhân, phân loại đất, tranh chấp quyền sử dụng đất do cách viết giấy chứng nhận, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, định nghĩa hộ, công chứng hợp đồng chuyển nhượng, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận…

Tổng kết Hội nghị, ông Trần Anh Tuấn - Chủ trì hội nghị đã chỉ đạo một số công việc sau:

- Yêu cầu các đại biểu nhanh chóng triển khai Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh để hoàn thành việc góp ý Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) theo đúng thời gian quy định. Các sở, ngành, đoàn thể tỉnh sẽ tổ chức lấy ý kiến trong đơn vị; các huyện, thành phố tổ chức triển khai cho các ngành huyện và các xã, phường, thị trấn. Trong nội dung triển khai, các đơn vị phải quan tâm phân tích rõ những thuận lợi, khó khăn của từng phương án được đặt ra trong Dự thảo Luật để dễ dàng trong quá trình thảo luận và đóng góp ý kiến.

- Yêu cầu các cơ quan, đơn vị, các phương tiện thông tin đại chúng, Báo Đồng Khởi đăng tải phụ trương Dự thảo Luật đất đai sửa đổi để nhân dân được biết và góp ý; Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh và Báo Đồng Khởi mở chuyên mục, chuyên trang và đưa tin bằng các hình thức thích hợp để nhân dân thảo luận đóng góp cho Dự thảo Luật đất đai (sửa đổi).



18/03/2013 12:00 SAĐã ban hành
Quy phạm mới về đo đạc thành lập bản đồ địa chínhQuy phạm mới về đo đạc thành lập bản đồ địa chính
Trong thời gian vừa qua, Quy phạm thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000, 1:10000, 1:25000 của Tổng cục Địa chính...



Trong thời gian vừa qua, Quy phạm thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000, 1:10000, 1:25000 của Tổng cục Địa chính ban hành kèm theo Quyết định số 720 720/1999/QĐ-ĐC ngày 30 tháng 12 năm 1999 đến nay không còn phù hợp với nội dung Thông tư của Bộ Tài nguyên và Môi trường số 08/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 8 năm 2007 hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất và Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 8 năm 2007 hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính và không phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội hiện nay.
Để thống nhất công tác đo đạc, thành lập bản đồ địa chính phục vụ công tác quản lý đất đai được tốt hơn và để đáp ứng yêu cầu kỹ thuật cơ bản cho việc đo đạc, thành lập bản đồ địa chính ngày 10/11/2008 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 08/2008/QĐ-BTNMT Ban hành Quy phạm thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200, 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000 và 1:10000,
Quy phạm này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Quy phạm thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000, 1:10000 và 1:25000 ban hành kèm theo Quyết định số 720/1999/QĐ-ĐC ngày 30 tháng 12 năm 1999 của Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính.

Bạn tải Quyết định về máy tại đây.


HÙNG CƯỜNG



12/12/2008 12:00 SAĐã ban hành
Bản đồ theo Kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến TreBản đồ theo Kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre
Bản đồ theo Kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre
29/03/2017 1:35 CHĐã ban hành
Khung chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư (RPF)Khung chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư (RPF)
Để thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và khôi phục đời sống những người bị ảnh hưởng bởi Dự án Quản lý nước Bến Tre vay vốn Tổ chức JICA - Nhật Bản (sau đây gọi tắt là Dự án B-SWAMP) do bị thu hồi đất, thiệt hại nhà cửa và những tài sản khác, Chính phủ Việt Nam (GoV) với Quyết định số 2418/QĐ-TTg, ngày 12/12/2016 đã phê duyệt Khung Chính sách Bồi thường, hỗ trợ, Tái định cư (sau đây gọi là Khung chính sách tái định cư) của Dự án

     1. Tóm tắt nội dung dự án 

      Trước tình hình biến đổi khí hậu phức tạp, sự ấm dần lên của trái đất dẫn đến hiện tượng tan băng ở 2 cực, sự dâng cao mực nước biển dẫn đến ngập các vùng đất thấp ở các quốc gia nằm ven biển, khí hậu thay đổi khắc liệt mưa, hạn bất thường và lưu lượng sông Mêkông giảm đáng kể do hiện tại và trong tương lai các quốc gia nằm thượng lưu như Trung Quốc, Thái Lan, Lào…có kế hoạch đẩy mạnh phát triển thuỷ điện để thay thế cho các nguồn năng lượng đang ngày một cạn kiệt. Tất cả các yêu tố trên dẫn đến ngập, lụt, hạn hán, xâm nhập mặn khốc liệt, thiệt hại nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bến Tre nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

       Bộ Nông nghiệp và PTNT cùng UBND tỉnh Bến Tre xây dựng dự án "Quản lý nước Bến Tre" được điều chỉnh từ dự án "Hệ thống thủy lợi Bến Tre" (JICA3) với quy mô từ 03 tỉnh (Trà Vinh, Vĩnh Long, Bến Tre), tập trung cho 01 tỉnh (Bến Tre), nhằm mục tiêu chủ động kiểm soát mặn, nước biển dâng, lấy nước, tiêu nước, lấy phù sa, thau chua, rửa phèn phục vụ sản xuất nông nghiệp kết hợp nuôi trồng thủy sản, tạo địa bàn phân bố dân cư & kết hợp giao thông thủy bộ, tạo thành mạng lưới giao thông thủy bộ liên tục trong vùng, hoàn thiện khép kín hệ thống thủy lợi của tỉnh nhằm mục tiêu phát triển vùng kinh tế, xã hội trọng điểm của tỉnh Bến Tre, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

      2. Mục tiêu chung của dự án

      Bảo vệ ngành nông nghiệp và đời sống của nhân dân khu vực dự án không bị đe dọa bởi xâm nhập mặn gây ra bởi biến đổi khí hậu, kiểm soát mặn và cung cấp nước ngọt để phục vụ sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, du lịch...  phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh Bến Tre.

Tải nội dung chi tiết:

1. QD 2353-QĐ-TTg phe duyet chu truong dau tu.pdf

2. QD 2418-QĐ-TTg phe duyet RPF.pdf

3. 12122016_RPF B-SWAMP_VN-Approval.doc

4. Bando DA.pdf

16/05/2017 8:00 SAĐã ban hành
Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biểnSở Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển
<dd>Bến Tre nằm ở phía đông vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên là 2.356,85 km2. Bến Tre có 03 huyện ven biển: Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú, gồm 12  xã ven biển có ranh giới từ khu vực đất ven biển Đông.



Khu vực này là nơi có 4 cửa sông Cửu Long: cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông và cửa Cổ Chiên đổ ra biển, với chiều dài 65 km bờ biển và gần 20.000 km vùng biển đặc quyền. Trong những năm qua, kinh tế 03 huyện ven biển đã có bước phát triển mạnh mẽ và toàn diện về tăng trưởng kinh tế, phát triển nông nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp, thương mại, dịch vụ; phát triển đô thị, hạ tầng kỹ thuật…
Thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, Tỉnh uỷ Bến Tre đã xây dựng Chương trình hành động số 11-CTr-TU ngày 19 tháng 4 năm 2007. Đề ra mục tiêu là đầu tư, khai thác có hiệu quả các tiềm năng kinh tế biển, chủ yếu là kinh tế thuỷ sản, kết hợp phát triển lâm nghiệp; đẩy mạnh công nghiệp chế biến, xuất khẩu thuỷ sản gắn phát triển nuôi trồng với nâng cao hiệu quả khai thác, đánh bắt; tăng nhanh các ngành dịch vụ du lịch; kết hợp phát triển kinh tế biển bền vững với đảm bảo an ninh quốc phòng vùng biển. Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển thực sự trở thành ngành kinh tế chủ lực của tỉnh.
Để triển khai thực hiện Chương trình hành động số 11 của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã có Kế hoạch số 2898/KH-UBND ngày 18 tháng 7 năm 2008, Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”. Trong đó, Tỉnh giao nhiệm vụ cho Sở Tài nguyên và Môi trường với chức năng là cơ quan quản lý nhà nước về biển phối hợp với các ngành, huyện ven biển xây dựng cơ chế quản lý, khai thác bãi bồi cửa sông, ven biển; hoàn thiện cơ chế giao quyền sử dụng bãi bồi ven biển vùng nước ven sông cho cộng đồng ngư dân quản lý, khai thác; xây dựng mạng lưới quan trắc môi trường biển; phối hợp các ngành, đơn vị liên quan phòng chống sự cố môi trường; tổ chức tuyên truyền về bảo vệ môi trường; giám sát, kiểm tra tình hình bảo vệ môi trường đối với các tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng tài nguyên; chủ trì phối hợp với các viện nghiên cứu, các trường đại học triển khai thực hiện các dự án về điều tra cơ bản: xác định trữ lượng, khả năng cho phép khai thác các loại tài nguyên rừng, khoán sản, nguồn lợi thuỷ sản; dự báo biến đổi dòng chảy, bãi bồi, cồn nổi, diễn biến môi trường… đến năm 2010 hoàn thành công tác điều tra vùng biển và ven biển, làm cơ sở cho quy hoạch phát triển kinh tế biển theo hướng phát triển ổn định, bền vững.
Tỉnh Bến Tre cũng đã xây dựng Đề án Phát triển toàn diện 03 huyện vùng ven biển tỉnh Bến Tre đến năm 2020, nhằm đánh giá lại đầy đủ và khoa học những tiềm lực phát triển của 03 huyện ven biển trong bối cảnh kinh tế, chính trị tỉnh Bến Tre. Từ đó đề ra kế hoạch cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội 03 huyện ven biển đến năm 2020; đồng thời đề ra phương án phát triển và các dự án trọng điểm trọng điểm theo các chương trình mục tiêu của Tỉnh, làm khâu đột phá đưa kinh tế của tỉnh, xứng đáng là một trong những vùng kinh tế năng động. Để sớm thúc đẩy 03 huyện ven biển phát triển theo đúng mục tiêu đã đề ra, hiện nay Uỷ ban nhân tỉnh giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì triển khai thực hiện đề án đến các sở, ngành và các địa phương có liên quan, đồng thời cân nhắc, lựa chọn các dự án ưu tiên để đưa vào kế hoạch và thông tin hướng dẫn cho các ngành, các huyện xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện.
Thực hiện Quyết định 2479/QĐ-UBND ngày 18 tháng 02 năm 2008 của Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre. Sở đã giao nhiệm vụ quản lý tổng hợp biển cho Phòng Tài nguyên, đổi tên Phòng Tài nguyên thành “Phòng Tài nguyên và Biển” để thực hiện nhiệm vụ được giao.
Hiện nay, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 6 tháng 3 năm 2009 về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2009. Trong đó, Chính phủ giao trách nhiệm cho Uỷ ban nhân dân các tỉnh ven biển:
- Quản lý và bảo vệ môi trường biển, hải đảo thuộc phạm vi quản lý theo phân cấp.
- Đánh giá tiềm năng kinh tế - xã hội, tình hình khai thác, sử dụng các vùng biển và hải đảo, quần đảo, bãi ngầm do địa phương quản lý.
- Điều tra, đánh giá và kiểm soát ô nhiễm, suy thoái môi trường biển và hải đảo từ các nguồn phát sinh từ các hoạt động khai thác, sử dụng biển, hải đảo và các sự cố hoặc thiên tai trên biển, trên địa bàn quản lý.
- Tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ tài nguyên và môi trường vùng biển, hải đảo.
Để tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao, Sở Tài nguyên và Môi trường đã chủ động đề ra một số nhiệm vụ trước mắt trong Kế hoạch năm 2009, nhất là công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, giáo dục pháp luật về khai thác sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo. Thời gian tới, Sở phối hợp với các sở, ngành liên quan trao đổi những công việc cần phối hợp thực hiện, quan hệ với Phòng Tài nguyên và Uỷ ban nhân dân 03 huyện ven biển để nắm tình hình, triển khai thực hiện nhiệm vụ chuyên môn được giao, đồng thời tham mưu giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện đạt kết quả những mục tiêu mà Nghị quyết của Tỉnh uỷ Bến Tre đã đề ra.
(Nguồn thu thập: Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 6 tháng 3 năm 2009 về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; Kế hoạch số 2898/KH-UBND ngày 18/ 7/2008 thực hiện Chương trình hành động số 11 của Tỉnh uỷ; Đề án Phát triển toàn diện 3 huyện vùng ven biển tỉnh Bến Tre đến năm 2020 của Uỷ ban nhân dân tỉnh)

Duy Triết



01/04/2009 12:00 SAĐã ban hành
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nh​iệm chính: Ông Nguyễn Văn Chinh - Chức vụ: Giám đốc Sở TN và MT | Giấy phép số: 139/GP - BC, ngày 16 tháng 4 năm 2007
Địa chỉ trụ sở: Số 01 - Trần Quốc Tuấn - Phường 2 - Thành phố Bến Tre - Tỉnh Bến Tre
Điện thoại: 0275.3822210 - 0275.3211494 - Fax: 0275.3813176; Email: stnmt@bentre.gov.vn